Phong tục cưới hỏi của người dân tộc thiểu số

Những gì được coi là văn hoá truyền thống, nó đều có sự biến đổi theo thời gian và không gian. Qua sự biến đổi ấy nó đã tự gạn đục khơi trong để có giá trị văn hoá đích thực phù hợp với thời đại mà con người đang sống, làm ra nó, hưởng thụ nó và tôn vinh để nó trường tồn, bất diệt.


 

 

1. Tục cưới hỏi của người Thái – Sơn La


 

 

Tục cưới hỏi của một số tộc người cũng vậy, không có một hương ước hay quy ước hay một văn bản nào quy định hay thay đổi một cách nhanh chóng được tục lệ cưới hỏi của họ vì nó đã in sâu thành nền nếp bao đời. Chỉ qua một quá trình đi lên của xã hội, những tục lệ không còn phù hợp đời sống văn hoá tinh thần mới. Tục cưới hỏi, lấy vợ của người Thái – Sơn La là một minh chứng.

 

 

Tuy niên mỗi dòng họ, mỗi vùng miền có đôi chỗ hoặc tên gọi khác nhau. Xưa kia con trai, con gái trưởng thành, nếu con trai muốn lấy vợ thì họ phải chăm lao động, đặc biệt là đan lát, sau là học thổi khèn bè, thổi sao nói được tình yêu với cô gái… Người con gái muốn có chồng, ngoài nết na phải học được thêu thùa khăn Piêu, dệt vải khuýt và luyện cái tai tinh tường để “nghe tình yêu qua khèn bè”; đâu là tiếng khèn bạn tình, đâu là tiếng khèn họ đang trèo cầu thang lên nhà, đâu là tiếng khèn gọi mình ra ngồi đầu sàn nói chuyện cùng họ đêm ttrăng; đâu là tiếng khèn tình không lành mạnh… Khi đôi nam nữ đã nhờ phần lớn là tiếng khèn, ánh mắt nói thay lời yêu thương, khi muốn lấy cô gái làm vợ, người con trai nhờ mẹ đẻ và một vài bà trong họ đến nhà cô gái làm một vài thủ tục gọi là Lòng Luông.

Lòng Luông: là mấy bà chưa mang lễ vật, chỉ đến nhà cô gái xin cho con trai mình được đi về (mà ngày nay gọi là xin đi lại) để tìm hiểu. Sau một thời gian, họ nhà trai tổ chức một đòn có lễ vật: gà, lợn, rượu, gạo… đến nhà cô gái, đoàn này do một ông mối (làm) dẫn đầu và giao tiếp gọi là pay đu, có dòng họ gộp hai giai đoạn này làm một gọi là Lòng luông đu châu.

 

 

Pay đu: Nội dung mời bên ngoại (họ của mẹ cô gái) về xin ý kiến, xin cho đôi nam nữ có điều kiện tìm hiểu. Sau một thời gian từ 3-4 tháng, gia đình và họ nhà gái chỉ nhận lời cho gần gũi, chứ chưa nhận lời cho lấy nhau.  Tiếp đó là thủ tục mới gọi là To pác.

To Pác: cũng là một đoàn nhà trai mang lễ vật đến nhà gái làm cỗ mời hai họ (thực chất là 4 họ). Sau đó họ nhà gái công khai hỏi đôi nam nữ về nguyện vọng xây dựng gia đình. Giai đoạn trên họ nhà gái bàn bạc đi đến nhất trí cho lấy hay không, nên gọi là To Pác (đo và đánh dấu). Sau To Pác là Khưới quản. Có vùng gọi giai đoạn này là: Ôm sáo (chứng minh cho cô gái tìm hiểu về mình).

 

 

Khưới quản: Người con trai đến ở nhà cô gái, được cùng ăn, làm vệc nhưng ngủ một chỗ riêng gần sàn quản, gọi là khưới quản. Giai đoạn này khoảng 1 năm cô gái vẫn có quyền tiếp bạn trai khác. Tuyệt đối người khưới quản không được lén lút ngủ với cô gái, nếu có (nhất là chửa) sẽ bị phạt rất nặng. Sau một năm, nhà trai làm thủ tục gọi là Xông Phắc phá.

Xông Phắc Phá (đem bao dao cho chú rể): nhà trai làm một bao dao mới (có cả dao) đem theo lễ vật: lợn, gà, cá nướng, thịt chua, gạo, rượu làm cỗ mời nhà gái ăn, từ 10 giờ sáng đến tận tối (gọi là công ơn). Trong bữa cơm công ơn này có Khoóng Phác nói (gửi nhỏ), Khoóng Phác luống (gửi lớn). Đây là một hình thức gửi rể cho nhà gái, họ có lời chúc, lời khuyên đôi trai gái sắp thành vợ chồng, lời khuyện răn là những câu ca dao, tục ngữ, gọi chung là lời nói có vần (dài từ 20-30 câu) chẳng hạn như:

          Chớ nghe lời con gà mà bỏ vườn.

Chớ nghe lời xúi dục mà bỏ anh em.

          Chớ nghe lời ham muốn dại mà mất cuả.

Bằng lòng nhau thành thơm, không ưa thành thối.

Không nên người ăn người ngửi mùi.

Trai khôn nhà không bằng người đi xa….

Cứ thế người ta dạy cô dâu, chú rể bằng văn vần và kết hợp cho một số tiền nhỏ làm vốn, đạt vào một cái đĩa, gọi là Phan khẩu xó (Bàn cơm xin). Ở đây là xin phúc, xin lời răn dạy, xin nhận họ hàng. Ở nghi lễ này đôi nam nữ được chấp nhận là vợ chồng. Họ được dọn nhà mình, (biểu hiện bằng sự mừng vui được đón cô dâu về nhà chồng), một đoàn trai tráng khiêng gánh chăn, đệm và các vật phẩm họ nhà gái tặng như dụng cụ nhà bếp bát, chậu, nồi xoong về đến nhà chồng người ta làm lễ tổ tiên cho co dâu nhập gia. Nhà trai lại tổ chức một bữa cỗ đông vui chào hai họ và bè bạn. Sau đó là tục mời uống rượu cần, nhà trai có một đoàn từ 5-6 người biết cách sắp xếp ngôi thứ hai họ, giỏi mời chào cầm tay vào chum rượu uống theo đôi một hoặc 4 đến 5 đôi, lời hát răn dạy lại cất lên:

          …Có chồng phải ủ rượu ngọt đắng

          Nặng nhọc giúp nhau làm.

ốm đau giúp nhau thuốc

Được ăn không quên đũa

Được ở không quên ơn cha mẹ…

Cổ xưa phần này dược coi trọng phần trả ơn cha mẹ, công ơn người làm mối, và cha mẹ cô gái chia tài sản cho đôi vợ chồng, tiếp theo là lời hát chào, mừng hai họ và đôi vợ chồng mới. Tiếp nữa là hình hành vòng xoè giao kết hai họ và nam thanh nữ tú của hai họ. Cuộc xoè mú kéo dài đến tận đêm khuya, vừa xoè múa vừa ống rượu cần.

Ngày nay do thực tế đời sống người con trai không thể ở rể như trước bởi họ là cán bộ công nhân viên chức, làm nghĩa vụ quân sự… hoặc do phong trào giãn hộ tách bản để làm kinh tế theo hộ gia đình, nên việc ở rể tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, có khi chỉ là một, hai tháng, một hai tuần và việc cưới xin chỉ thực hiện 1 lần, sau khi đôi nam nữ tìm hiểu đi đến hôn nhân, đoàn nhà trai có một doàn gồm đủ thành phần đủ cả họ bố, mẹ đến xin và hẹn ngày làm đăng ký kết hôn và làm lễ Tằng cẩu thực hiện ngay tại ủy ban Nhân dân xã, đôi vợ chồng trẻ được nghe một đoạn về luật hôn nhân, gia đình… Chú rể chỉ đến nhà vợ ở một tháng hay một tuần người ta tổ chức lễ cưới đón cô dâu về nhà chồng, nghi lễ cũng ngắn gọn hơn, những hình thức vẫn là nhà trai đem đến vật phẩm tặng nhà gái. Việc cúng lễ tổ tiên chấp nhận cô dâu mới ngắn gọn, việc ăn uống tuy đông đúc nhưng không xa hoa lãng phí mà mang một nét ẩm thực độc đáo, một tục lễ uống rượu cần và rượu chai hết sức văn hoá, tuy có say nhưng người ta chỉ hát xèo, múa, thể hiện sự mừng vui, thắt chặt tình làng xóm, họ tộc, không say làm điều sai quấy. Đặc trưng nhất là tục uống rượu cần, chỉ có họ nhà trai đi mời chào họ nhà gái, họ nhà gái ít từ chối và uống theo một tục lệ nhất định nhằm tăng cuộc vui, sau đó là xèo múa vòng, người ta tạm quên đi bao nỗi nhọc nhằn, xoá bỏ đi mọi va chạm của cuộc sống, nắm tay nhau vào vòng xoè vui bất tận.

Qua việc biến cải về tục cưới xin của người Thái ta thấy: việc cưới hỏi không chỉ nhằm vào một mục đích duy nhất và làm cho trai gái thành vợ thành chồng gắn bó sinh sống, nối dõi tông đường, mà nó còn nhằm vào một mục dích cao cả nữa là giúp cho đôi vợ chồng ấy có đủ cơ sở vững chắc đủ bản lĩnh và thói quen, kinh nghiệm sản xuất, văn hoá ứng xử chọn vẹn đạo lý làm người, mà sống suốt đời hạnh phúc góp phần xây dựng cho họ tộc và cộng đồng những giá trị tập quán văn hoá. Đồng thời cũng thể hiện rõ nét tinh thần trách nhiệm của cha, mẹ họ tộc trước hôn nhân của thế hệ trẻ, mà không hề mất đi tính tự do trường tồn cho đế tận ngày nay, những cải biến chỉ là để phù hợp với thời đại chứ không mang tính thị trường, thương mại, lai căng làm giảm giá trị nhân văn của họ. Cưới hỏi của người Thái được xem như một lễ hội rõ rệt. Lễ hội của tình yêu, hạnh phúc./.

 

 

 


 

 

2. Hôn nhân người Chăm – Bà Ni (Bình Thuận)


Người Chăm hai đạo Bà ni và Bà Chăm đều tổ chức hôn lễ vào những tháng 3, 6, 8, 10 theo âm lịch Chăm. Phổ biến nhất là tháng 3 và tháng 6 vào ngày thứ tư của tuần trăng tối. Đám cưới của người Bà ni có hai hình thức, một gọi là đám Khah cho trường hợp chàng rể là tín đồ (KHEH) chưa làm thầy Chang. Hai là đám Đih cho chàng rể là giá sí thầy Chang. Hai chiều thứ ba đến ngày thứ tư. Còn đám Đih chỉ trong ngày thứ tư.

 

 

I/ Đám Khah:

Vào chiều thứ ba, họ nhà trai cử ông mai (Nưkmư) dẫn chú rể cùng một vài vợ chồng thân tộc đến nhà gái để bàn việc cưới. Đại diện nhà trai được mời ngồi trên chiếu bông trải sẵn ngoài sân, trên chiếu có khay trầu cau, rược trà và đèn sáp. Tục này người Bà ni gọi là Dok got (ngồi xổm). Hai bên bàn thống nhất giờ giấc và tục lệ để tiến hành. Sau đó hai ông mai hai bên vào trong nhà làm lễ dựng phòng tục (Danok) cho cô dâu chú rể.

Sang ngày thứ tư, tại nhà gái dựng lên hai cái rạp. Một ở phía đông dành cho đại diện họ tộc hai bên và khách mời ngồi dự lễ và ăn tiệc. Một ở phía tây dành cho các giáo sỹ hành lễ. Cuối rạp phía trong người ta có treo một tấm màng vải màu vàng đỏ có hoa văn (gọi là Hanin) và một tấm vải trắng trên trần rạp. Dưới đất được trãi nhiều chiếu bông. Có một bàn tổ được phủ một tấm khăn trắng, trên đó có một mâm vật lễ để sư cả (Ôn grù) hành lễ. Hai bên bàn tổ có hai cây đèn sáp thắp sáng. Khi làm lễ, ông sư cả ngồi kề bàn tổ, mặt xoay ra ngoài sân. Hai bên là các giáo sĩ Imưm, Tip, Chang ngồi chứng kiến.

Khi họ nhà trai đến và được mời ngồi. Sau đó, ông mai nhà gái vào nhà dẫn cô dâu và chú rể ra ngoài. Cô dâu mặc hai áo, áo trong của nữ Bà ni, áo ngoài của nữ bà Chăm gọi là áo Sah. Chú rể mặc áo màu trắng như áo thầy Chang. Cả hai đều choàng qua vai một băng vải đỏ (Talay Bak) từ sau lưng ra trước ngực như vũ nữ Chăm. Chú rể nắm tay cô dâu đi trên hàng chiếu trải từ trước nhà đến láng lễ, làm lễ rửa chân trước láng do sư cả đảm nhiệm. Xong rồi, sư cả vào sạp ngồi vào vị trí của mình. Chú rể thì ngồi ở phía tây gần bàn tổ đối diện với sư cả. Kề bên chú rể là cô dâu ngồi nhích về phía sau. Ông già làm lễ đọc một đoạn Kinh bằng tiếng ả Rập, ý niệm báo với Thượng Đế về mục đích tổ chức và xin phép đựoc đặt tên thần bí cho chú rể và cô dâu.

         Ví dụ: Tên chú rể là: Mơlin Buh Khal

                     Cô dâu là: Mơbi At Salamưk

Những tên trên được dùng để gọi suốt cuộc lễ cưới này. Còn ở lễ cưới khác thì đặt tên khác. Sau phần Kinh lễ, sư cả cầu nguyện cho đôi tân hôn được hạnh phúc, rồi nhìn thẳng vào mặt chú rể hỏi:

- Này Mơlin Buh Khal! Anh có chấp nhận cô Nơbi At Salamưk làm vợ anh không?

Chàng rể trả lời:

- Dạ! chấp nhận.

Ông già hỏi tiếp:

- Vậy anh có mang quà, vật biếu cho cô dâu không?

- Dạ có! Một chiếc nhẫn “Nhẫn cưới mơ ta”, một đôi vòng vàng tay, và một con trâu.

Ông sư cả hỏi xong, bảo ông Mươm 40 ngồi kề lập lại câu hỏi trên và chàng rể trả lời ba lần như vậy. sau đó, cô dâu một mình đứng dậy vào nhà, ngồi trong phòng tục mà ông mai đã làm lễ dựng chiều hôm trước, kề bên một bà cụ gọi là “Muk Pơk” (I)

Trong khi đó, chàng rể đưa chiếc nhẫn cho ông Mươm. Ông này cùng với một giáo sĩ khác là ông Tip mang mâm lễ vật mà sư cả đã thông qua Kinh lễ, cùng hai cậu bé, mỗi cậu mang một khay trầu cau, một khay vải trắng vào trong nhà làm lễ dựng phòng tục (Danok). Tại đây ông Mươm 40 làm lễ xoas phòng tục mà ông mai dựng chiều hôm trước để dựng lại phòng tục mới theo đúng nghi lễ Hồi giáo (II) bằng cách trãi sắp vải trắng mới, đặt lên đó mâm lễ vật mang từ ngoài vào cùng một số vật lễ khác như đèn sáp, trầu cau… Rồi ông đọc Kinh cầu nguyện. Sau đó, ông nhìn thẳng vào mặt cô dâu ngồi gần cây đèn thắp sáng đối diện với chú rể và hỏi với sự chứng kiến của “Muk Pơk” và ông Tip:

- Này Nơbi At Salamưh! Cô có chấp nhận Mơlin Buh Khah làm chồng cô không?

Cô dâu trả lời:

-    Chấp nhận.

Tiếp đó, ông Mươm giao chiếc nhẫn mơ ta cưới cho chú rể đeo vào tay cô dâu làm kỉ niệm ngày cưới. Sau đó, ông Mươm đặt bàn tay người chồng vào bàn tay người vợ mà Muk Pơk bóp chặt lại một hồi, chứng tỏ vợ chồng luôn gắn bó suốt cuộc đời. Sau đó, ông Mươm rẫy nước phép ban phúc lành cho vợ chồng vừa căn dặn đạo đức ăn ở đối với đôi tân hôn. Người vợ lấy trầu têm một miếng để vào miệng chồng. Người chồng quấn lên mình vợ một phần của chiếc áo mình thể hiện sự ân cần chăm sóc của người vợ đối với người chồng và hạnh phúc mà người chồng sẽ mang đến cho vợ. Xong rồi, ông Mươm ngoéo tay ông Tip, chú rể nắm tay cô dâu ra ngoài láng lễ. Chỉ còn lại Muk Pơk trong phòng tục để canh giữ vật lễ trong phòng.

Ngồi bên bàn tổ cùng cô dâu chú rể, ông Mươm trình báo lại với sư cả rằng lễ tục trong phòng hoa chúc đã hoàn thành. Tiếp đó, là lời cầu chúc của sư cả đối với đôi vợ chồng được sống trăm năm hạnh phúc.

Một bữa tiệc được dọn ra trong rạp lễ để các sư cả, Mươm, Tip, Chang chứng kiến dùng trước. Sau mới đến họ hàng hai bên và khách mời nơi rạp khách. Đó là lúc cô dâu chú rể lần lượt đến từng bàn chào mừng cám ơn và nhận diện thân nhân hai họ xiu gia của mình, vừa nhận quà biếu…

Sau ba ngày ở tục trong phòng hoa chúc, chú rể dẫn cô dâu về thăm lại cha mẹ mình và cả gia đình họ ngoại, để rồi về lại ở rể suốt đời bên vợ.

 

 

II/ Đám PaĐih:

Như trên đã nói, đám Pa Đih chỉ diễn ra trong một ngày thứ tư. Cũng có tổ chức lễ “Dok Got”, tức lễ ngồi trên chiếu để hai bên bàn trước việc tiến hành lễ nhưng không phải trong sân mà trước cửa tiền của nhà gái dưới một bóng cây nào đó vào buổi sáng thứ tư.

Hai ông mai (Nưk mư) đôi bên và hai bà vợ của ông Tip và ông Mơ Dình và một vài đại diện nhà trai đến đó ngồi trên chiếu bông mà nhà gái đã trải sẵn, cùng vật lễ như ở đám Khah. Sau đó, bên nào về lại bên đó. Sau khia bàn thống nhất giờ giấc và tục lệ tiến hành, khoảng 10 giờ sau bữa ăn lót lòng, cúng báo gia tiên, gia thần rồi, họ nhà trai ăn mặc chỉnh tề, tuần tự theo hàng một đến nhà gái. Đi đầu là ông mai chú rể, sau là các bà, các cô. Tiếp đó là nam giới. Riêng chàng rể, ngoài áo thầy Chang màu trắng bên trong còn vận bên ngoaì chiếc áo màu đỏ dài đến nửa thân người gọilà “áo Bơt”. Trên đầu đội mũ lễ gọi là gọi là “Khah”. Khi họ nàh trai đã được ổn định chỗ ngồi, thì lễ cắt cổ dê bắt đầu trước rạp do một ông Chang đảm nhiệm. Tiếp đó, chú rể cô dâu làm lễ rửa chân do sư cả thực hiện. Xong rồi, chú rể cô dâu vào trong rạp trình diện sư cả trước bàn tổ cùng các giáo sĩ khác ngồi hai bên hàng ngang.

 

 

Tất cả lễ tục tiếp theo đều diễn ra như đám Khah, chỉ khác một điều là trong đám Pađih người ta chỉ thực hiện “Phòng tục” một lần theo nghi thức đạo Hồi vào ngày thứ tư.

 

 

Ghi chú:

 

 

(I) Tục này chỉ có trong người Bà ni ở Bình Thuận thôi. Xem truyện Vua Kabrah Blm lấy vợ Bà ni sẽ biết. Truyện này trích trong sách Truyện cổ dân gian Chăm – Bình Thuận của Bố Xuân Hổ.

 

 

(II) Tại sao phải xoá phòng tục do ông Nưk Mư dựng và có lễ dựng lại phòng tục khác.

 

 

Tục này chỉ áp dụng cho trường hợp chàng rể là người ngoại đạo, tức chưa phải thầy Chang. Khi phòng tục được dựng lên thì sáng  hôm sau (thứ tư) thầy cả sư (Ôn Grù) được mời đến và ghé thăm phòng tục. Ông đánh hai người đến 100 roi (đánh tượng trưng thôi) (Có người nói 90 roi) và hai vợ chồng phải lạy để được tha tội. Sau này, không phạm nữa. Do đó, có tục xoá phòng tục trước do ông mai dựng và chỉ nhận phòng tục do hai ông Mươn đạo Bà ni dựng cho đúng nghi thức đạo Hồi.

 

 

 

 

3. Tục cưới xin cổ truyền của dân tộc Mường – Hòa Bình và xu hướng biến đổi hiện nay


Hòa Bình là một tỉnh miền núi cửa ngõ vùng Tây Bắc, ráp danh với các tỉnh Hà Nội, Phú Thọ, Hà Nam, Ninh Bình, Sơn La và Thanh Hóa.

Tổng diện tích tự nhiên hơn 4 nghìn km2, tổng dân số trên 8 vạn dân, có 11 huyện, thành phố, 210 thị xã, phương thị trấn; có 6 dân tộc chính sinh sống (Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông) trong đó dân tộc Mường chiếm đa số dân với 63,3%.

Là một tỉnh được coi là cái nôi của dân tộc Mường với các địa danh nổi tiếng( Bi, Vang, Thàng, Động). Văn hóa Mường là một văn hóa tộc người đã sớm khẳng định bản sắc riêng, qua lối sống, nếp sống và phong tục tập quán, tín ngưỡng truyền thống những giá trị ấy được bảo tồn và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử.

Tìm hiểu giá trị của bản sắc văn hóa Mường cổ truyền có nhiều giá trị tiếng như, áng sử thi “Đẻ đất, Đẻ nước”, Văn hóa cồng chiêng mường… một trong điển hình đó là những nét văn hóa đó là tục cưới xin của dân tộc Mường Bi – Tân Lạc.

Tục cưới xin của người Mường ở Hòa Bình là một lễ tục văn hóa về hôn nhân gia đình đã hình thành và định hình từ lâu đời được coi là một tục lệ văn hóa quan trọng, phong phú, đặc sắc, có ảnh hưởng rất lớn và sâu sắc đến sự hình thành, phát triển gia đình, dòng tộc và dân tộc, chứa đựng trong đó rất nhiều phong tục, luật tục, những chuẩn mực, những quy định, yêu cầu về tìm hiểu yêu đương, kén chọn, gả chồng, gả vợ.

Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống, tác động rất lớn đến sự phát triển của xã hội, đến tư tưởng và ý thức tộc người.

Với người Mường, hình thức gia đình cũng giống như người Việt, đó là quá trình phát triển từ hình thức đại gia đình đến gia đình hạt nhân. Đại gia đình, gia đình lớn là hình thức chung sống trong một mái nhà nhiều thế hệ, từ các cụ, ông bà, bố mẹ cho đến con cái, cháu chắt. Có nhiều đại gia đình xưa có đến 5 thế hệ cùng chung sống. Trong qua trình phát trienr của xã hội , hình thức đại gia đình ngày càng giảm dần, thay vào đó là gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ với hai thế hệ vợ chồng và con cái. Đối với người Mường vợ chồng chỉ ra ở riêng khi đã có con, ngoại trừ có trường hợp là con một thì ở chung với bố mẹ. Thông thường một cặp vợ chồng có 2 đến 4 người con và đều mong muốn có nếp có tẻ, nếu sinh toàn con gái thì được xem là bất hạnh, còn nếu không có con trai thì phaỉ bắt rể. Trường hợp không có con thì nuôi con nuôi. Bởi những cặp vợ chồng không có con thì sau này khi mất đi toàn bộ tài sản, đất đai đều bị làng thu lại xung quỹ công. Gọi là “thu lụi”.

Gia đình người Mường là gia đình Phụ quyền, người đàn ông là người chồng, người cha và người chủ gia đình, có vai trò quan trọng nhiều mặt của cuộc sống: có quyền hành lớn, quyết định mọi việc từ làm ăn, cưới xin, tang ma đến công việc tín ngưỡng. Đồng thời, họ còn là người thay mặt gia đình quan hệ với họ hàng, làng xóm và các tổ chức xã hội, với chính quyền địa phương. Mọi tài sản trong nhà, kể cả ruộng nương, trâu bò, công cụ sản xuất đều do người đàn ông là người chủ nắm giữ. Quyền lực này sẽ được bàn giao lại cho con trai cả khi đã trưởng thành đảm đương, người cha chỉ đóng vai trò cố vấn và lo việc đối ngoại.

Quyền lực của người đàn ông trong gia đình, sự phục tùng và ý thức tôn ti trật tự đã được ăn sâu vào đầu óc của các thành viên trong gia đình, nhất là đứa trẻ bằng mọi sự liên tục. Đó là sự lệ thuộc của người em đối với anh cả, của anh cả đối với cha và của người cha đối với tổ tiên.

Cũng phải nói thêm rằng sau quyền lực được công nhận của người cha, còn có quyền lực thực tế, tuy không nói ra, quyền của người mẹ. Người phụ nữ trong gia đình mường có nhiều đóng góp quan trọng nhiều mặt trong sống gia đình và sản xuất, từ việc tham gia lao động sản xuất trên nương, ngoài ruộng đến các công việc nội chợ trong gia đình, nuôi dạy con cái… ngoài việc tham gia lao động nặng nhọc, người phụ nữ đảm nhận lớn hơn nam giới rất nhiều. Tuy nhiên trong xã hội Mường truyền thống, người phụ nữ hầu như không có quyền hành gì lớn trong gia đình. Khi còn nhỏ chịu sự quản lý của gia đình, cha mẹ, khi có chồng thi theo chồng, phụ thuộc vào chồng.

Trong gia đình người Mường, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái tương đối bình đẳng. Con cái phải có hiếu với cha mẹ, phải kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng và vâng lời cha mẹ. Cha mẹ phải chăm lo nuôi nấng, giáo dục con cái, truyền đạt kinh nghiệm sảng xuất, các nghề thủ công, các công việc trong gia đình. Cha mẹ uốn nắm con cái về lời ăn tiếng nói, cách ửng xử trong gia đình và với cộng đồng. Cha mẹ già ở với con cái cả, những người con thứ ra ở riêng được cha mẹ chia cho một số tài sản nhất định và phải có trách nhiệm với cha mẹ. Anh em ruột thịt sống có trách nhiệm với nhau và yêu thương nhau. Khi cha mẹ qua đời, người anh cả chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, dựng vợ gả chồng cho các em.

Gia đình Mường là nơi bảo tồn các gía trị văn hóa truyền thống, là nơi trao ttruyền các truyền thống tộc người trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

Về hôn nhân, người Mường đều phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định,từ yêu đương tìm hiểu đến các lễ tục trong việc cưới xin. Ngày xưa việc dựng vợ gả chồng là do cha mẹ xếp đặt,con cái không có quyền lựa chọn, nhất là con gái. Hiện nay trai gái được tự do tìm hiểu bạn đời, hôn nhân hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện.

Tiêu chuẩn chung theo quan niệm của người Mường khi chọn vợ là chọn những cô gái chịu khó, chăm chỉ làm ăn, nói năng nhẹ nhàng, biết làm các công việc đồng ángv, biết thêu thùa dệt vải, thành thạo các công việc nội trợ và xử lế phép với bố mẹ, anh chị, họ hàng, làng xóm,sắc đẹp chỉ là một trong những tiêu chuẩn, người Mường quan niệm người vợ lý tưởng la phải nết na, chăm làm, có câu: “Đừng tham nón rẻ mà đội trời mưa, đừng tham người đẹp mà thưa việc làm”.

Tiêu chuẩn của một người chồng lý tưởng là có sức khỏe, cày bừa thành thạo và biết đan lát các công cụ gia đình, biết chăm lo cho gia đình. Người Mường thường có câu “Con trai để rào hỏng, dậu nát là con trai hư”. Khi kén rể người ta còn xem xét đến gốc gác gia đình, tránh những nhà có tiếng xấu và các loại bệnh di truyền.

Đối với người Mường trước đây, tuổi kết hôn thường rất sớm, con trai lấy vợ ở tuổi 15 đến 20 tuổi, con gái lấy chồng trong độ tuổi 16 đến 18 tuổi. Trên 25 tuổi đã được co là quá lứa, và ngoài 30 tuổi mà chưa xây dựng gia đình thì được xem là “ ế vợ, ế chồng”.

Ở người Mường xưa kia một cuộc hôn nhân thường trải qua nhiều giai đoạn, với nhiều nghi lễ phức tạp, tiêu tốn nhiều tiền của. Việc định giá cô dâu hoàn toàn do nhà gái quyết định, nhà trai phải chấp nhận. Thành ngữ Mường có câu “lấy được cô dâu hết ba trâu chín lợn”, hoặc “Lễ án du khu mặt nạ” có nghĩa lấy được cô dâu, bên nhà chồng phải rất vất vả, lo toan. Trong truờng hợp xảy ra ly dị, nếu người vợ chủ động thì phaỉ trả toàn bộ lễ vật mà nhà chồng đã chi phí từ lúc ăn hỏi đến lúc cưới. Nếu người chồng chủ động thì tài sản sẽ được chia đôi.

Theo tập quán người Mường, những người góa vợ hoặc goá chồng phải chịu tang đúng ba năm, ba tháng, mười ngày mới được đi bước nữa.

Trong hôn nhân Mường cũng có tục ở rể. Trong trường hợp nhà gái không có con trai để lo hương hỏa, thờ cúng tổ tiên, thì ngưởi ở rể được hưởng toàn bộ gia tài và coi như con trai. Trong trường hợp này nhà gái thường chủ động sắp đạt hôn nhân và mọi phí tổn cho đám cưới đều do nhà gái lo liệu. Theo luật tục, nhà trai không được đòi hoặc thách cưới.

Đám cưới được tổ chức hai lần, lần thứ nhất tổ chức bên nhà trai cô dâu phải sang nhà chú rể lạy tổ tiên và họ hàng, mang biếu bố mẹ, anh chị em họ hàng bên chồng một số vật dụng như chăn, gối, nệm.Nhà gái còn tổ chức một đoàn người sang nhà trai đón chàng rể về. Ở nhà trai, nàng dâu cũng phải làm đầy đủ các thủ tục nghi lễ khi chàng rể đi đón dâu; ngược lại, khi đón chàng rể về đến nhà gái, chàng rể phải làm đủ mọi nghi lễ như lúc nàng dâu về nhà chồng. Những đám cưới như thế thường tổ cức trong một ngỳ. Ba ngày sau, chàng rể và cô dâu quay về nhà trai làm lễ lại mặt.Sau đó chàng rể về cư trú bên nhà vợ và gánh vác mọi công việc nhà bố vợ.

Nghi lễ cưới xin cổ truyền của người Mường – Hòa Bình được tiến hành theo trình tự lễ phong phú như sau:

 

 

* Chọn người làm mối (chọn mờ)

Sau khi đôi trai gái được gia đình và họ hàng nhất trí cho tổ chứ đám cưới thì nhà trai sẽ chọn và nhờ người làm mối (mờ). Người được chọn làm mối không phân biệt nam hay nữ, nhưng phải đứng tuổi, có uy tín, được nhiều người kính nể, gia đình luôn hạnh phúc, đông con nhiều cháu, nói chuyện khéo léo, có tài ứng đáp.

Người Mường quan niệm rằng trai gái có nên vợ nên chồng và sau này có con đàn cháu đống hay không là nhờ sự giúp đỡ của người làm mối. Vì thế mà thành ngữ Mường có câu: “ Cơm ngon vào miệng, tiếng tốt vì mời” (Piêng tiếng Mường Bi nghĩa là cái ninh đòng để đồ xôi).

Nhiệm vụ của người làm mối bắt đầu từ khi dạm ngõ, hỏi thăm đến lúc cưới, đón dâu về trao cho nhà trai.

 

 

* Dạm ngõ, thăm hỏi (mở miệng)

Gia đình nhà trai nhờ ông mờ mang trầu, cau, hai chai rượu, quà bánh đến nhà cô gái để chính thức ngỏ lời cho đôi bạn tẻ được thành hôn. Hôm đó hai bên cùng nhau bàn bạc trao đổi và thoả thuận ngày “kháo tiếng”.

 

 

* Đặt vấn đề (kháo tiếng)

Đến ngày chọn, nhà trai chuận bị 02 gói chè, khoảng 10 quả cau, hơn 20 lá trầu, tất cảc được gói kỹ và trao cho ông mờ đến nhà cô gài khoảng chạng vang tối

Đúng gìơ đã hẹn, nhà gái với sự hiện diện của bố mẹ, ông, bà, chú, bác, cô, dì… ngồi đợi nhà trai đến, đồng thời học cử ngưởi ra cổng chờ sẵn để đón lễ vật và mời ông mờ vào nhà.

Người ta mổ gà thiết đãi ông mờ. Chủ nhà giữ đôi chân gà để xem đoán sự tốt xấu và nhân duyên của cô gái: Lễ vật của nhà trai đem đến được đặt lên bàn thờ tổ tiên. Ba ngày sau mà nhà gái không đem trả lại lễ vật thì tức là đồng ý. Sở dĩ là phải đợi 03 ngày là vì, theo tập quán, bố của cô gái phải nằm nghe trong ba ngày đem liền nếu này không tiếng hươu, giác, vượn kêu, gà gáy dở, cây đổ, đá lăn thì mới coi là được, nghĩa là không có điểm gở, điểm xấu. Sau đó tự tay ông mở gói lễ vật và báo cho họ hàng rằng nhà đã có chuyện vui.

Kể từ đấy hai nhà mặc nhiên là thông gia, các con được phép thường xuyên thăm hỏi nhau.

 

 

* Ăn hỏi (Ti nòm):

Theo từng điều kiện của mỗi gia đình mà lễn ăn hỏi có thể tiến hành sớm hay muộn.

Muốn tiến hành lễ ăn hỏi (Ti nòm), nhà trai phải sắm một lễ nhỏ sang nhà cô gái để xin ngày, lễ vật có một con cá cắt 04 khúc được gói trong lá dong, bốn chiếc bánh trưng không nhân, năm quả cau, mười lá trầu (bánh trưng ngụ ý là cô gái còn trinh trắng, nếu có nhân thì nhà gái hiểu rằng con gái nhà mình đã có chửa). Sau bữa cơm thân mật, gia đình quyết định ngày ăn hỏi.Theo tập quán, ngày ăn hỏi, cưới xin thường chọn tháng 11, 12 (âm lịch) là thời điểm của mùa màng đã thu hôãchng,cau cũng chắc hạt. Người Mường kiêng dựng vợ gả chồng vào tháng 7 (âm lịch) vì đó là tháng ngâu, và người ta kiêng chọn ngày cuối tháng vì người ta coi đó là “ngày cùng tháng kiệt” nếu tổ chức ăn hỏi sẽ đem lại điều không may. Ngưòi ta chọn ngày đầu tháng vì “tháng rộng ngày dài”. Sau khi đã chọn được ngày, ông mờ về báo cho nhà trai biết ngày làm lễ ăn hỏi để sắm lễ vật. Lễ ăn hỏi được tiến hành làm hai lần, lần đầu là “nòm gà”, lần sau gọi là “nòm cá” hay “nòm lợn”.

Lễ nòm gà, như đã hẹn trước, nhà trai sắm sửa lễ vật gồm: 02 con gà sống, 02 con cá, 16 chiếc bánh làm bằng gạo nếp, 04 chai rượu, 04 gói cơm nếp, ba mươi lá trầu, một buồng cau. Tất cả được xếp vào thúng để hai người  khiêng.

Đoàn nhà trai mang lễ vật ăn hỏi lần này gồm có ông mờ, hai nam thanh niên và em gái của chàng rể. Trước lúc xuất hành nhà trai làm mâm cơm cúng tổ tiên để trình báo và phù hộ, lúc bắt đầu khởi hành, người ta kiêng gặp con gái, hoặc người “vía độc”, do vậy họ thường cử một bé trai ra ngoài chông choi để lấy vía may. Trong suốt chặng đường đi, những người trong đoàn đi không được ngoái đàu trở lại và đi một mạch đến nhà gái.

Phía nhà gái, ngay ngày hôm đó mời đông đủ họ hàng bên nội.

Sau khi đem lễ vật đến, ông mờ trao cho đại diện nhà gái. Cỗ bàn được bày ra, mọi người ăn uống vui vẻ. Trong bữa ăn, ông Mờ và nhà gái cùng bàn bạc, hẹn ngày ăn hỏi làn hai, hay còn gọi là lễ nòm cả.

Lễ nòm cả, nhà trai phải có một con lợn khoảng 30 kg đã mổ thịt, 04 con gà sống thiến, vài gánh xôi, hai chum rượu nhỏ, trầu cau. Đoàn nhà trai gồm ông Mờ dẫn đầu, chàng bánh rợm, rể và ba bón người bạn của chú rể và tám người khiêng lễ vật: ngươì Mường cho răng khiêng thế mới có đôi.

Trước khi đi, bố mẹ của chàng rể gao cho ông Mờ một túi vải đựng hai vòng tay bằng bạc, 08 vuông vải tự dệt, 01 mặt phà làm chăn.

Cùng như lần ăn hỏi trước (nòm ngà), làn này trước kh đi cung làm một mâm cơm cúng để trình tổ tiên. Ra khỏi nhà, ông Mờ đi trước dẫn đoàn, chàng rể cùng bạn bè và những người khiêng lễ vật theo sau. Khi đến cổng nhà gái đã cử người đón ồng khiêng lễ vật và mời nhà trai lên nhà uống nước, ăn cơm. Ông Mờ thay mặt nhà trai trao túi vải cho bố, mẹ cô gái và coi đó là vật làm tin. Chiếc túi vải được mở ra trước sự chứng kiến đông đủ của họ hàng nhà gái và sau đó được dạt lên bàn thờ tổ tiên (sau lễ ăn hỏi, lễ vật này được cất vào trong hòm, đợi khi nào con gái sinh con đầu lòng sẽ tặng lại).

Sau lễ ăn hỏi, phải sau ba năm lễ cưới chính thức được tổ chức. Trong thời gian chờ đợi nhà trai cực chuẩn bị điều kiện vật chất cho lễ cưới. Đây là khoảng thời gian thử thách gian khổ đối với chàng trai, người Mường gọi là ăn công con, tức là con rể tương là các dịp lễ, tết phải có quà mang biếu bố, mẹ vợ tương lai với mục đích trả công ơn nuôi dưỡng cô gái trưởng thành.Vào dịp tết nguyên đám quà biếu là một con lợn khoảng 20 cân đã luộc chín, úp vào thúng xôi đồ, khoảng 20 chiếc bánh rợm, 10 chiếc bánh mật, vài chai rượu nếp, trầu cau. Vào dịp tết đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5, âm lịch) phải có gói cá sống, 02 con gà. Rằm tháng 7 cúng phải có 02 con gà , 01 chai rượu. Còn nhà gái, để đáp lại thường cho con gái bố mẹ chồng tương lai những sản phẩm tự dệt như: gối, đệm…Trong dịp tết, cô gái có thể đến ăn Tết ở nhà chồng tương lai khoảng 3,4 hôm, nhưng không được đòi “ngủ chung” với chàng trai. Trong thời gian này chàng rể và nàng dâu tương lai thương xuyên đi lại thăm hỏi và giúp đỡ gia đình hai bên phát nương rẫy, cày ruộng, cấy hái…nhất là lúc mùa màng bận rộn. Tháng mười không đi mất chồng, tháng sáu không đi mất vợ  là muốn căn dặn chàng trai và cô gái chớ lơ là công việc gia đình.

 

 

* Lễ cưới (Ti cháu):

- Sau lễ ăn hỏi 3 năm, gia đình nhà trai chọn ngày tốt, nhờ ông Mờ đến nhà gái mang lễ xin cưới. Lễ này gồm có 2 con gà ( một trống một mái) hai gói cá, bốn chai rượu, bốn gói cơm nếp, một gói trầu cau, hai vòng bạc. Cùng đi với ông Mờ còn có anh, chị, em chàng rể.

Gia đình nhà gái được báo cáo trước nên đã chuẩn bị đầy đủ cho lễ hẹn ngày, mời họ hàng, mời các bậc cao niêm trong họ đến để đón tiếp nhà trai và bàn bạc thống nhất ngày cưới. Trong lễ này, nhà gái sẽ thách cưới. Lúc này vai  trò của ông Mờ rất quan trọng và ý kiến của ông Mờ có quyết định trong lễ cưới, vì vậy thái độ của ông Mờ phải rất nhã nhặn sao cho bên nhà gái vui vẻ thoải mái, bên nhà trai  không cảm thấy nặng nề.

Trước đây, một đám cưới bình thường nhà gái thường thách cưới một con trâu đã vực cày (hoặc 1 con bò) vài thúng gạo nếp, gạo tẻ, 2 con lợn (mỗi con khoảng 30 – 40 kg), khoảng 8 thúng xôi nếp (mỗi thúng có 12 gói), 6 gói trầu cau, khoảng 24 ống rượu (tương đương khoảng 5 lít). Tuỳ thuộc vào từng gia đình và tài ăn nói của ông Mờ mà lễ vật có thể được giảm đi ít nhiều; Riêng trâu, bò thì dứt khoát phải có.  Trong trường hợp con gái nhà Lang thì nhà trai phải có 9 con trâu, 1 con bò, một số nồi đồng, xanh đồng. Ngoài ra còn phải có đủ lợn gà, rượu, gạo, vòng bạc…

Sau khi hai bên đã thống nhất ngày cưới, ông Mờ trở về báo tin cho nhà trai chuẩn bị lễ vật. Cùng ngày hôm đó, bên nhà gái mời 4 phụ nữ nhanh nhẹn, tháo vát, gia đình luôn êm ấm tới làm lễ khâu màn cho cô dâu.

Trước ngày cưới chính thức 2 đến 3 hôm, các cụ ông, cụ bà trong họ được đón về têm trầu bổ cau. Đêm đến, những chàng tai, cô gái thay nhau xay thóc, giã gạo, khung cảnh thật náo động, nhộn nhịp.

Sau những ngày chuản bị khẩn trương, họ hàng hai bên tiến hành tổ chức lễ cưới. Thường đám cưới diễn ra trong 3 ngày. Trước đây đám con gái nhà Lang diễn ra từ 4 đến 5 ngày đêm.

Lễ dẫn diễn ra trước hôm tổ chức đám cưới một ngày, nhà trai làm mâm cơm trình báo tổ tiên, cầu mong mọi việc diễn ra tốt đẹp. Khoảng 8- 9 giờ sáng, đoàn người dẫn của bắt đầu khởi hành, số người đi phải chẵn, không được lẻ. Đoàn người gồm có ông Mờ, ông chú, bà bác, em gái của chàng rể và một số người khiêng lễ vật, dắt trâu bò  đến nhà gái.

Trên đường đi, nếu qua làng khác thì thường bị chăng dây chắn đường, khi đó người làm mối đứng ra trình bày lý do của việc khiêng của, mời họ ăn trầu rồi nộp tiền chuộc đường, sau đó đoàn người lại vui vẻ lên đường. Đến gàn nhà cô dâu, đoàn người đi chậm lại, sửa sang quần áo, sắp xếp lễ vật cho ngay ngắn rồi đi thẳng vào sân nhà gái. Bên nhà gái đã cử người ra đón, đồng thời cử người ra xem lễ vật đã đầy đủ hay chưa, nếu thiếu nhà trai phải lo đủ như đã thoả thuận.

Người ta đem cột con trâu (bò) vào chân cột dưới nhà sàn, lễ vật khác được mang lên nhà. Sau đó đại diện của nhà gái mời cả đoàn uống nước, ăn trầu và mời dự uống rượu cần với gia đình.

Trở về nhà, ông Mờ báo cáo với họ hàng nhà trai quá trình dẫn của, thông báo gìơ được phép đón dâu (vào ngày hôm sau).

Buổi tối ở cả hai bên gia đình khách khứa, bạn bè gần xa của cô dâu, chú rể và của bố mẹ đến dự rất đông, người ta tổ chức tục đánh cồng, hát múa, đối đáp chúc tụng lẫn nhau Đây cũng là dịp để trai gái đến dự gặp gỡ, trao đổi hát ví, hát đúm, hát giao duyên và tỏ tình.

Lễ đón dâu diễn ra vào ngày hôm sau. Buổi sáng sớm cỗ bàn đã được bày biện để đón khách đến dự lễ cưới. Tại nhà trai, các cô gái chàng trai bạn bè của chú rể mặc quần áo đẹp đẽ chuẩn bị đi đón dâu Số lượng người đi đón không hạn chế, tuỳ theo đường gần hay xa, số lễ vật nhiều hay ít. Đi đón dâu người ta chọn giờ sao cho khi đoàn cô dâu đưa cô dâu đến nhà chồng vừa lúc chạng vạng tối. Người Mường quan niệm đó là thời điểm tốt nhất trong ngày, tục người Mường có câu; “tí cháu buồng trâu, ti du vàng mặt”,  nghĩa là lúc nhà trai đi đón dâu vào lúc thả trâu ra đông (8-9h sáng), còn cô dâu về nhà chồng lúc mặt trời lặn (5-6h chiều)

Thành phần đi đón dâu, ngoài bạn bè của chàng rể, còn có ông Mờ, một cụ ông, một cụ bà có uy tín trong họ, 1 hoặc 2 em bé gái và đại diện có vai vế trong làng, đồng thời đội cồng chiêng cũng đi cùng để tấu nhạc. Lễ vật đem theo là một gói trầu cau.

Trang phục của chú rể và phù rể như nhau, áo trắng mặc bên trong, áo dài đen mặc bên ngoài, kiểu cách như  vậy được người Mường gọi là “đóng đôi”, quần lụa tơ tằm hoặc bằng vải nhiễu, buộc dải nút, đầu đội nón lá dứa.

Đến giờ đã chọn, đoang người đi đón dâu tập trung trước cửa nhà, dàn cồng chiêng gióng lên một hồi ba tiếng, dứt hồi cồng, đoàn người đi đón dâu bắt đầu lên đường. Dẫn đầu là ông Mờ, tiếp theo là những người cao tuổi và dàn Cồng, cuối cùng là bạn bè chàng rể, phù rể. Tập quán đi đón dâu đều phải đi theo con đường chính, không ai được bỏ về giữa chừng, gặp đoạn đường rẽ người ta đặt hai miếng trầu cau hai bên rìa đường. Trên đường đi đàn cồng chiêng tiếp tục tấu lên những bản nhạc rộn rã, báo cho làng xã, mường gần biết đã đi đến đâu, căn cứ vào tiếng cồng, nhà gái biết đoàn ở xa hay gần để chuẩn bị ra đón tiếp.

Tới cổng nhà gái, dàn cồng im tiếng, bạn bè cô dâu đã chải sẵn một chiếc chiếu vào sẵn lối vào nhà. Ông mờ mang một chai rượu cung cơi trầu đến xin nhà gái mở lối cho đoàn đi đón dâu được vào nhà, người ta tổ chức hát đối nam nữ cho tới khi nhà gái vui lòng nhường lối. Từ hai bên đường bạn bè của cô dâu ném tới tấp những nắm rượu cần vào đoàn người đón dâu. Nếu nhà trai có nhiều người bẩn quần áo thì nhà gái càng vui vẻ, người Mường cho rằng làm như thế sau này vợ chồng chung sống sẽ hạnh phúc.

Khi đoàn đón dâu đã lên hết trên nhà sàn, đại diện nhà gái đến hướng dẫn chỗ ngồi cho đoàn nhà trai, còn chú rể tiến lên trước bàn thờ vái lạy tổ tiên và lạy sống ông, bà, bố, mẹ vợ và những người thân thiết trong họ thuộc vai trên của cô dâu. Người được lạy thường có tặng phẩm cho đôi bạn trẻ và chúc cho hai vợ chồng sống trăm năm hạnh phúc. Tiếp sau  đó là cỗ bàn được bày ra, mọi người ăn uống vui vẻ. Trước lúc nhà trai xin đón dâu về, nhà gái mang rượu cần ra mời họ cùng uống, chúc phúc cho cô dâu chú rể.

Đến gìơ đã chọn, ông Mờ xin phép nhà gái cho cô dâu được về nhà chồng, bấy giờ cuộc vui mới tạm ngừng.

Ngày cưới là ngày cô dâu mặc bộ máy đẹp nhất của mình, trùm lên trên đầu chiếc khăn vuông (khổ 30 x 30 cm) màu trắng, buộc thắt nút đàng sau gáy, mặc áo cánh ngắn sẻ giữa ngực, bên trong mặc yếm. Váy của cô dâu màu đen dài chấm gót chân, thắt lưng và chiếc khăn lục màu xanh lá cây, để lệ cặp váy lúng liếng hoa văn.

Khi hồi cồng gióng lên rộn rã, cô dâu và phù dâu từ trong buồng bức ra trước bàn thờ lạy tạ giã từ tổ tiên, ông bà, bố mẹ. Lúc cô dâu chuẩn bị ra khỏi nhà, một bà trong họ bước đến đội nón lên đầu cô dâu, đồng thời dặn dò cô dâu cách cư xử khi về nhà chồng. Theo tục lệ, ra khỏi nhà, tay phải cô dâu cầm một con dao có chuôi bằng sừng nai, lưỡi dao có cắm củ gừng với mục đích trừ tà ma, vì sợ sau này vợ chồng sống bất hoà, đứt gánh giữa đường phải quay lại nhà bố mẹ đẻ.

Dẫn đầu đoàn đón và đưa dâu là ông Mờ, các ông bà của hai họ, rồi đến cô dâu phù dâu, đi sau cùng là chú rể, phù rể và bạn bè, anh em của chàng rể. Cô dâu đeo bao đựng đò riêng của mình, những người khác bên nhà gái đưa dâu khiêng đồ vật của cô dâu biếu gia đình nhà chồng, thường thì khoảng 02 chiếc chăn, 20 chiếc gối, 12 tấm vải, ngoài ra còn có chiếc màn của cô dâu được khâu từ  trước.

Theo tập quán đón và đưa dâu thì phải đi cùng một chặng đường. Nếu đi qua làng khác lại bị chăng dây, thì ông Mờ lại phải đứng ra mời trầu và chuộc tiền. Đoàn rước dâu về đến nhà trai thì cũng bị ném bã rượu cần, nhưng ít hơn. Đến chân cầu thang, em gái của chàng rể múc nước cho chị dâu rửa chân. Mọi ngưòi cũng được lần lượt rửa chân rồi lên nhà. Riêng cô dâu và phù dâu khi lên cầu thang không được bước vào bậc thứ nhất mà phải bước lên bó củi do nhà trai đặt sẵn rồi mới đi lên các bậc thang tiếp theo. Người Mường cho rằng làm như thế thì co dâu sau này sẽ chăm chỉ làm lụng hơn. Bước vào trong nhà, cô dâu mới đi thẳng đến bên bếp lửa, quỳ xuống lạy Vua bếp với mong muốn đến sau này đến ngày sinh nở, Vua bếp sẽ phù hộ cho hai mẹ con. Sau đó, cô dâu đến bàn thờ lạy tổ tiên và những người vai trên của chàng rể, mỗi lần lạy xong cô dâu cũng nhận được tiền mừng.

Sau khi khấn cúng tổ tiên, người ta tổ chức “Lễ tơ hồng”, hay còn được gọi là lễ “cơm quen”. Họ trải chiếu ở giữa nhà, mâm lễ gồm một quả trứng luộc cắt làm tư để trên một đĩa xôi, 1 nậm rượu bằng quả bầu khô, một bầu khác đựng nước lã, ông Mờ cầm hai tay hai đôi đũa dơ lên qua đầu ba lần rồi đặt đũa xuống mâm. Lát sau, ông quay lưng lại nhấc đũa lên đưa chéo tay cho cô dâu chú rể, rồi đưa hai nắm xôi, hai miến trứng cho hai người cúng theo cách chéo tay ấy. Tiếp theo ông cầm bầu nước rót vào hai bát cho hai người dâu rể uống và khấn “Ông tơ bà nguyệt” se dây, se cho hai vợ chồng có con trai con gái, con gái thì cầm nong, cầm nia biết sảy lúa, con trai biết cày bừa, làm ăn phát tài, phát lộc cho bố, cho mẹ, cho hai họ cùng mừng.

Sau lễ tơ hồng, cỗ bàn lại được bày ra, nếu cô dâu chú rể là người cùng làng thì sau bữa cỗ họ nhà gái ra về, còn nếu ở làng ở xa họ nhà gái sẽ ngủ lại. Tối hôm đó nam nữ thường hát giao duyên, đánh cồng chọn đêm.

Theo lệ Mường, khi nhà gái ra về, người ta để phù dâu ở lại “ngủ bạn” với cô dâu 3 đêm. Những ngày sau này đôi vợ chồng trẻ chưa đựơc phép “chung chăn gối”. Sau 3 ngày cưối, hai vợ chồng trẻ cùng phù dâu quạy lại nhà gái 1 ngày, gọi là “ti mộng” (lại mặt), đến đây phù dâu hoàn thành nhiệm vụ. Cùng ngày hôm đó quần áo và tư trang cô dâu được chuyển về nhà chồng. Đêm hôm đó hai vợ chồng trẻ mới chính thức động phòng (đêm tân hôn).

Về phần ông Mờ, sau bữa cơm chia tay vào buổi sáng ngày hôm sau, lễ  đón dâu, ông Mờ đứng trước hai bên gia đình tuyên bố rằng nhiệm vụ kết duyên cho đôi trẻ đã xong. Sau đó đại diện nhà trai đem biếu ông 1 chân giò lợn đã được luộc chín, ở Muờng Bi ông Mờ còn đựơc biếu thêm một khấu đuôi lợn. Còn nhà gái vài ngày sau lễ cưới cũng đến tận nhà ông Mờ để cảm ơn và biếu một chân giò lợn, một khoanh thịt ở phần cổ con lợn, 2 chai rượu, 3 lá trầu.

Nhìn chung về hình thức các thủ tục lễ nghi của việc cưới xin ở các gia đình người Mường giàu có hoặc nghèo đều tương tự nhau. Sự khác biệt  lớn giữa đám cưới nhà giàu và nhà nghèo chính là ở số lượng và chất lượng của đồ lễ thách cưới và cỗ cưới. Đối với nhà giàu đám cưới là dịp thể hiến sự danh gía  và phú quý của gia đình mình. Với người nghèo thì đám cưới có tình chất thông báo cho họ hàng và cộng đồng làng xóm. Trong nhiều gia đình, đám cưới con trai được chú ý hơn là con gái, con trai trưởng càng quan trọng hơn, nhất là gia đình nhà giàu, nhà trưởng họ.

Tục cưới xin cổ truyền của người Mường – Hoà Bình ngày nay đã có nhiều thay đổi, một số tập tục, nghi lễ đã được loại bỏ. Tuy nhiên, qua khảo sát dân tộc Mường ở Hoà Bình vẫn giữ được một số giá trị văn hoá tiêu biểu đó là:

+ Tình đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong họ hàng, hàng xóm láng giềng thông qua tục họp tiền. Tập tục này đã tạo nên sự gắn kết cộng đồng.

+ Văn hoá ứng xử khiêm nhường mà tinh tế của người Mường, từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói, lời chào mời thăm nghĩa tình, đặc biệt là lời mời trong tục uống rượu cần của hai bên nhà trai và nhà gái.

+ Tính tâm linh thể hiện qua việc cúng bái thần linh, cúng bái tổ tiên, lạy tạ tổ tiên.

+ Lòng tôn kính cha mẹ, anh em, họ hàng của cô dâu, chú rể, Nhưng lễ vốn của cô dâu mang biếu bố mẹ chồng như chăn, gối, đệm…Tình cảm của mẹ chồng nàng dâu trong ngày đầu tiên bước chân về nhà chồng. Mẹ chồng ân cần đưa đón, qua các cử chỉ như cầm nón cho cô dâu, múc nước rửa chân, dắt tay co dâu lên nhà…

+ Văn hoá ẩm thực Mường được thực hiện trong việc bày cỗ, chế biến thức ăn, tục uống rượu cần ở nhà gái.

+ Trang phục của cô dâu và phụ nữ trong ngày cưới. Trong ngày cưới mọi người đều ăn mặc những bộ trang phục đẹp nhất, đặc biệt là trang phục dân tộc Mường của cô dâu, phù dâu, các bà, các chị.

Trong tục cưới hỏi của dân tộc Mường ở Hoà Bình hiện nay đã có những biến đổi tích cực như  sau:

Trước đây, việc quyết định hôn nhân là do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” thì ngày nay những đôi trai gái hoàn toàn có quyền chủ động, tự do yêu đương, tự do tìm hiểu. Khi tiến tới hôn nhân, họ xin ý kiến cha mẹ, thế hệ trẻ luôn thể hiện sự kính trọng cha mẹ và tranh thủ sự đồng tình để tiến tới hôn nhân.

Trong hôn nhân, độ tuổi kết hôn của nam nữ Mường đã tuân thủ Luật hôn nhân và Gia đình, nam từ 20-25 tuổi, thậm chí đến 30, nữ từ 18-20 tuổi trổ lên mới xây dựng gia đình.

Quan niện trọn bạn đời của nam nữ thanh niên cũng có thay đổi, vấn đề quan trọng là người đó có việc làm ổn định, biết tính toán làm ăn và có đạo đức tốt là được. Ngày xưa hôn nhân thường bó hẹp trong làng xã, trong cùng tộc người thì ngày nay đã mở rộng hơn nhiều, đó là hôn nhân với người khác tộc, hôn nhân giữa Mường và Việt, giữa Mường và Thái… Hôn nhân ngày nay đang có xu hướng gia tăng các cuộc hôn nhân hỗn hợp dân tộc, làm cho bức tranh dân tộc ở vùng Mường thêm đa dạng, những cặp vợ chồng khác tộc sẽ chuyển tải văn hoá cho nhau trong quá trình chung sống, con cái sẽ được hấp thụ văn hoá của cả bố lẫn mẹ.

Trong hôn nhân, các hủ tục như đa thê, tảo hôn, thách cưới cao…đã hầu như không còn. Lễ cưới người Mường ngày nay đã thực hiện theo nếp sống mới, các hiện tượng mua dâu, mua rể không còn. Việc thách cưới bằng bạc trắng, dắt trâu sang nhà gái, các tục cổ như nếm bã rượu, ném trấu vào đoàn nhà trai đến nhà gái đón dâu, căng dây, đóng cổng đòi tiền nay đã không  còn diễn ra nữa.

Hiện nay, tục cưới xin của ngưòi Mường ở mường Bi chủ yếu được diễn ra theo các bước sau:

- Lễ dạm ngõ: ông Mối và hai gia đình đi lại, trao đổi thống nhất chỉ trong một lần.

          – Lễ ăn hỏi: được tổ chức vui vẻ tại nhà gái.

- Lễ đón dâu: Nhà gái làm bữa cơm, nhà trai mang lễ vật sang nhà gái. Hai họ, khách mời dự bữa cơm thân mật, sau đó nhà trai đón cô dâu.

- Lễ lại mặt: Sau lễ đón dâu vài ba ngày, cô dâu chú dể về lại nhà gái, bên nhà gái mời họ hàng thân tộc đến dự một bữa cơm thân mật, sau đó cô gái về làm dâu suốt đời bên nhà trai.

Nhìn chung, các bước tiến hành ngày nay đã đơn giản đi nhiều, thời gian từ khi đặt vắn đề đến khi tổ chức đám cưới thường chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, không phải đợi chờ, thử thách ba năm như trước đây.

- Bên cạnh những giá trị tích cực được bảo tồn trong tục cưới hỏi hiện nay của dân tộc Mường ở Hoà Bình cũng không tránh khỏi các biến đổi tiêu cực như sau:

+ Trang phục của cô dâu chú rể có xu hướng tân thời, cô dâu thích được mặc váy trắng ba tầng dài quết đất thay cho bộ áo váy truyền thống. Chú rể thì thích đóng bộ com lê, đeo cà vạt, đi giầy da.

+ Âm nhạc ngày nay thường là những bản nhạc rock bốc lửa, họ không còn chơi xắc bùa cồng chiêng với những điệu “thường rang, bộ mẹng” như xưa nữa. Trong đám cưới, các chàng trai, các cô gái cùng nhau nhảy những điệu nhảy mới quay cuồng trong những bản nhạc mạnh.

+ Trong tiệc cưới đã xuất hiện bia, rượu mạnh thay cho trước đây.

+ Ngày nay hầu hết các đám cưới trong bài trí khánh tiết của đám cưới những nếp nhà sàn truyền thống không còn và thay vào đó là cách dựng rạp, trang trí hiện đại. Khách đến dự tiệc cưới, kể các cụ ông, cụ bà cũng ngồi ghế nhựa 6 cụ một mâm, không có gia chủ ngồi tiếp.

Từ những biến đỏi trong tục cưới hỏi của người Mường ở Hoà Bình có thể đưa ra các dự báo xu hướng biến đổi của nghi lễ cưới xin trong giai đoạn hiên nay như sau:

+ Về các tập tục, lễ vật: các bước tiến hành trong lễ tục cưới xin theo xu thế chung đã được đơn giản hoá đi nhiều, thủ tục ngắn gọn, thời gian từ khi đặt vấn đề đến khi tổ chức đám cưới thường chỉ diền ra trong vòng một năm, với bốn lễ chính là: dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu, lại mặt. Về lễ vật: tiền mặt đang dần thay thế cho các lễ vật, thách cưới của nhà gái thường từ 2 triệu đến 3 triệu đồng. Số tiền đó sẽ được nhà gái chủ động lo tổ chức đám cưới.

+ Về nhà ở, trang phục chú rể cô dâu trong ngày cưới: trang phục sẽ được biến dổi theo xu hướng tân thời: cô dâu mặc áo dài, chú rể mặc com lê. Trang phục dân tộc sẽ mất dần, kể cả những người tham dự đám cưới cũng ăn mặc theo lối tân thời.

+Về các ngi lễ trong ngày cưới: Một số nghi lễ dần bị xoá bỏ, như lễ rửa chân cho cô dâu, lễ lạy tạ Vua bếp… Những biến đổi này chủ yếu do việc thay đổi nhà ở, ngôi nhà sàn người Mường đã dần được thay thế bằng nhà xây, mọi sinh hoạt trên nhà sàn không còn phù hợp nữa.

Một số đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển tục cưới xin của người Mường ở Hoà Bình hiện nay.

Giải pháp về nhận thức:

- Hôn nhân và gia đình là vấn đề quan trọng trong cuộc sống của mỗi dân tộc. Việc tổ chức đám cưới, mở đầu cho cuộc sống gia đình của đôi bạn trẻ là rất hệ trọng, phải tổ chức sao cho vui vẻ, lành mạnh, phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc, phù hợp với hoàn cảnh từng gia đình, bảo đảm văn minh lịch sự, tiết kiệm, tránh phô trương lãng phí.

- Không chỉ các cấp lãnh đạo Tỉnh Hoà Bình (từ tỉnh đến cơ sở) mà toàn thể nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đặc biệt là người Mường càn có một nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vốn di sản văn hoá mà họ đang nắm giữ cũng như  trách nhiệm bảo tồn, phát triển chúng trong đời sống văn hoá của cộng dồng. Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hoá Mường cổ truyền cần đặt trong tổng thể chính sách của đảng và Nhà Nước về bảo tồn và ơhát triển văn hoá các dân tộc Việt Nam trong thời đại hiện nay.

- Tạo mọi điều kiện cho người dân, nhất là thế hệ trẻ mường làm chủ được các giá trị văn hoá mà cha ông họ để lại và có ý thức bảo tồn, phát triển chúng trong đời sống xã hội hiện nay.

- Cưới xin là việc hệ trọng của đời người, trong đó chứa đựng rất nhiều giá trị văn hoá truyền thống. Để bảo tồn được các giá trị tốt đẹp đó cần sớm xây dựng các, Quy định trong tổ chức việc cưới xin của người Mường.

Giải pháp về cơ chế chính sách:

          Dựa vào các chính sách của nhà nước về bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc người, nhất là cá dân tộc người miền núi còn nhiều khó khăn như  Hoà Bình.

          Dựa vào các kết quả nghiên cứu để bổ sung hoặc điều chỉnh một số nội dung cụ thể trong chính sách văn hoá của tinh Hoà Bình, phù hợp với thực tế của tỉnh, đường lối văn hoá của Đảng và Nhà Nước Việt Nam hiện nay. Bổ sung những nội dung cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn những chính sách bảo tồn, phát triển bản sắc văn hoá Mường, huy động sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào hoạt động đó.

Thực hiện chính sách bảo tồn những giá trị đặc sắc của văn hoá Mường cổ truyền theo hướng kết hợp chặt chẽ văn hoá với kinh tế, với hoạt động , du lịch, mục tiêu văn hoá gắn bó chặt chẽ với mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, đảm bảo sự phát triển bền vững.

Với những nét đặc sắc trong tạp tục tập quán của dân tộc người Mường ở Hoà Bình nói riêng và cộng dồng dân tộc Việt nam nói chung, là một kho tàng giá trị nhân văn tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam, ngày nay dưới sự cỉ đạo của Đảng Nhà Nước ta trong bối cảnh trước tốc độ phát triển mọi mặt trên thế giới và trong nước, xác định mục tiêu, nhiệm vụ “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc” là một quan niệm đúng đắn và cấp thiết. Nếu chúng ta có ý thức và trách nhiệm từ cá nhân đến cộng đồng và toàn xã hội trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội, ổn định về chính trị, vững về quốc phòng, an ninh, xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp vững bước tiến bước lên Chủ nghĩa xã hội.

 

 


 

 

 

4. Phong tục cưới hỏi của vùng người Mông ở huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai


Sa Pa là một huyện miền núi vùng cao nằm về phía tây bắc của tỉnh Lào Cai, diện tích tự nhiên 67.905 ha chiếm 8,44% diện tích toàn tỉnh. Sa Pa có 6 dân tộc cùng chung sống như Mông, Dao, Kinh, Tày, Dáy, Xa Phó dải từ vùng hạ huyện, qua trung huyện đến thượng huyện với tổng dân số 35.427 người phân bố không đều ở 17 xã và thị trấn. Dân tộc Kinh chủ yếu cư trú tại thị trấn Sa Pa sống bằng nghề kinh doanh dịch vụ, các dân tộc khác chủ yếu cư trú ở các xã sống bằng nghề nông – lâm kết hợp. Phong tục cưới hỏi của vùng người Mông ở huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai được tiến hành như sau.

Sa Pa là một huyện miền núi vùng cao nằm về phía tây bắc của tỉnh Lào Cai, diện tích tự nhiên 67.905 ha chiếm 8,44% diện tích toàn tỉnh. Sa Pa có 6 dân tộc cùng chung sống như Mông, Dao, Kinh, Tày, Dáy, Xa Phó dải từ vùng hạ huyện, qua trung huyện đến thượng huyện với tổng dân số 35.427 người phân bố không đều ở 17 xã và thị trấn. Dân tộc Kinh chủ yếu cư trú tại thị trấn Sa Pa sống bằng nghề kinh doanh dịch vụ, các dân tộc khác chủ yếu cư trú ở các xã sống bằng nghề nông – lâm kết hợp. Phong tục cưới hỏi của vùng người Mông ở huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai được tiến hành như sau.

 

 

Phong tục hỏi vợ.

Trong cuộc sống đời thường, chuyện dựng vợ gả chồng người nào, vùng nào cũng đều thận trọng bởi phần lớn những đám cưới này đều là một sự quyết định cho cả cuộc đời mỗi con người…Do đó người nào cũng coi việc cưới hỏi là một trong những việc lớn và quan trọng của đời người. Cho dù mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có những tập quán cưới hỏi khác nhau rất phong phú, đa dạng, nhưng ý nghĩ chủ đạo trong việc cưới hỏi đều giống nhau, việc cưới hỏi của vùng người Mông Sa Pa cũng không nằm ngoài suy nghĩ đó. Sự quan tâm của họ còn sâu sắc hơn, mỗi khi có trai gái trẻ yêu nhau say đắm, thề thốt sẽ cùng xây dựng tổ ấm chung sống đến đầu bạc răng long. Khi hai người yêu nhau và có thời gian tìm hiểu nhau vài ba năm tới lúc họ thực sự muốn tổ chức kết hôn thành vợ thành chồng của nhau, người con trai thổ lộ ý định của mình với cha mẹ, cha mẹ tìm hiểu ý định của con trai qua hội bạn của con mình, bàn bạc với chú bác cùng góp ý thận trọng tiến hành từng bước một.

 

 

Tục nắm bắt thông tin.

Qua vài lần hội ý thống nhất, nhà trai cử người thân thiết như bà cô, hay bà dì, hay chị gái, em gái của chàng trai, có khi là người mẹ chàng trai lấy cớ tới chơi thăm thú họ hàng người thân ở làng nhà gái chơi với mục đích ngầm theo dõi những hành động, cử chỉ, lời ăn tiếng nói, lối ứng xử giao tiếp của người con gái mà con trai nhà mình đã yêu. Ngoài ra còn thăm dò tin tức nhận xét đánh giá về nhân phẩm đạo đức, lối sống, tính tình của người con gái bên nhà gái qua hàng xóm láng giềng ở bản làng nhà gái. Khi đã có đầy đủ thông tin về nhà trai cung cấp lại toàn bộ thông tin mà tai nghe, mắt thấy cho chủ nhà trai, qua đó người chủ nhà bố của con trai mời bác chú đến cùng nhận xét đánh giá, cùng đưa ra nhận định chung: nếu như mọi người cùng chấp nhận thì bước tiếp theo được tiến hành, không chấp nhận thì buộc con trai từ bỏ ý định của mình.

 

 

Tục bói số vợ chồng:

Trong phong tục cưới hỏi của người Mông Sa Pa tục bói số hợp vợ, hợp chồng là một khâu hết sức quan trọng, việc này quyết định cho sự thành hôn hay không của đôi trai gái trẻ. Qua khâu nắm bắt thông tin người con gái được người nhà trai chấp nhận thì nhà trai tiến hành làm thủ tục bói số để đoán biết số mệnh của cô dâu tương lai và con trai nhà mình có hợp số mệnh không? Có sống được cả đời tới khi già không?

Tục bói số vợ chồng của vùng người Mông Sa Pa có hai hình thức khác nhau.Hình thức thứ nhất bói bằng hương: Khi bói người cha hay mẹ của con trai lấy ba nén hương đốt cháy sẵn ra đứng chính giữa ngoài cửa chính đọc lời cầu khấn với ma trời, ma đất, đọc ngày tháng năm sinh, con gái thứ mấy của nhà gái với con trai nhà mình sau đó quay vào trong nhà đứng tại cột ma chính đọc lời cầu khấn một lần nữa, đọc xong họ cắm cả ba nén hương xuống gốc cột ma chính, họ theo dõi và đoán biết kết quả tốt xấu qua quá trình cháy của ba nén hương đó nếu ba nén hương cháy đều nhau đến hết là được. Nếu có một nén hương cháy ở độ cao hơn, hai nén cháy thấp hơn đều nhau là rất tốt nó biểu hiện nén hương cháy cao hơn là cha mẹ trụ cột gia đình, còn hai nén cháy thấp đều nhau là cô dâu, chú rể tâm đầu ý hợp sau này hai vợ chồng sẽ có lối sống kỷ cương, kính trên nhường dưới, sống lâu tới đầu bạc răng long… Cả ba nén hương cháy không đều nhau là xấu. Hình thức thứ hai bói bằng con gà: khi bói người ta bắt một con gà con tầm bẩy tám lạng hay một cân cùng với ba nén hương người cha hay mẹ bói đều được, người bói cầm con gà và hương đốt cháy sẵn ra đứng chính giữa ngoài cửa chính đọc lời cầu khấn như đã nêu trên sau đó vào trong nhà đứng trước cột ma chính đọc lời cầu khấn như trên xong, người bói cắm ba nén hương xuống chân cột ma chính. Họ đem con gà bói đó cắt tiết tại trung tâm gian nhà chính thường thờ cúng tổ tiên khi con gà gần chết họ thả con gà xuống đất con gà dẫy nảy tứ tung, khi chết hẳn đầu quay về phía nào cũng được. Cách xem và đoán nhận biết biểu hiện tốt xấu: người bói thấy con gà chết quay đầu về hướng đông và hướng bắc họ cho là tốt, họ cho rằng nó biểu hiện ba điều tốt như sau:

Điều thứ nhất: Nếu lấy là được người con gái đó sẽ đồng ý về làm dâu nhà mình không có ai cản trở, hồn vía nó đã về rồi.

Điều thứ hai: Hai đứa con trai, con dâu có sự hướng thiện về phía ánh sáng mặt trời, đường đời sáng lạng trong tương lai.

Điều thứ ba: Hai đứa đều có tính tôn ti trật tự tôn trọng bề trên quan tâm tổ tiên. Nếu con gà đó chết quay đầu về hướng tây, nam là biểu hiện không tốt. Theo quan điểm của người Hmông Sa Pa thì hướng tây là hướng tối, hướng nam là hướng tụt. Nếu biểu hiện như vậy thì việc cưới hỏi sẽ không được thực hiện.

Qua việc tìm hiểu nắm bắt thông tin trên đi đôi với một trong hai tục bói số hợp vợ, chồng trên đây nhà trai cảm thấy hợp số mệnh giữa con trai nhà mình với người yêu thì các bước tổ chức sẽ được triển khai tiếp theo.

 

 

* Phong tục kéo vợ.

Truyền thống người Mông Sa Pa vốn rất tôn trọng nhau, nhất là phái nam tôn trọng phái nữ gần như mẫu hệ, phụ chủ đã ăn sâu vào tiềm thức con người nơi đây. Trong cuộc sống đời thường cái gì to cũng là của người mẹ kể từ chức quan, nhà cửa, ruộng nương… Ngược lại người mẹ, người vợ rất thương người cha, người chồng. Những hình ảnh người đàn ông say rượu nằm ngủ cạnh đường người phụ nữ cầm ô che nắng, tay dắt ngựa chở chồng về bản là một hình tượng đẹp chỉ có ở người Mông. Trong cưới hỏi người con gái được tôn trọng hơn, từ danh giá nhân phẩm cho đến đức tính quý phái của chị em với tính cách thương người thẳng thắn cương trực và tốt bụng của những chàng trai người Mông, hiện tượng yêu đương lăng nhăng, ly hôn ít xảy ra ở vùng người Mông. Biểu hiện sự kết hôn luôn bền chặt, ít khi bịũáo trộn.

 

 

Tục kéo vợ

Tục kéo vợ là một biểu hiện rõ nét người Mông thường dùng từ kéo cô dâu hay kéo vợ. Trong cuộc sống mặc dù đôi trai gái yêu nhau đắm đuối, từng thề thốt cùng chung sống với nhau cả đời, lúc lấy nhau thật cũng phải tổ chức kéo thì cô gái mới chịu về nhà chồng, không có cô gái nào tự bước chân về nhà chồng cả, ý nghĩa chính của việc kéo vợ thể hiện sự danh giá của người con gái qua ba nghĩa chính:

- Thứ nhất: Cô gái không bị xã hội đánh giá thấp hèn cam chịu chay theo con trai một cách mù quáng hạ thấp mình để hầu hạ nhà trai.

- Thứ hai: Người con trai thực sự cần lấy cô gái làm vợ thật với thiên chức của người mẹ mới tổ chức kéo vợ, thể hiện thái độ rõ ràng cụ thể.

- Thứ ba: Tránh sự đồn thổi tai tiếng xấu của xã hội và sự ngược đãi sau này của người chồng và người nhà trai.

* Chuẩn bị đi kéo vợ: Khi đã được nhà trai cho phép con trai được lấy vợ, cả nhà tập trung cùng lo, cho người đi mời phù dâu, phù rể, cô chú cùng đi giúp kéo vợ, đoàn người kéo vợ thường có ít nhất 5 người chính thức và một số người khác phụ giúp. Một cô gái trẻ chưa có chồng khác họ nhà trai làm phù dâu, một chàng trai khác họ với nhà trai chưa có vợ làm phù rể, một người anh hoặc bác ruột có hiểu biết cầm trịch, và chú rể chồng của cô dâu, một người thường là bà cô hay bà dì đại diện mẹ chú rể với một số bạn trai trẻ biết cách kéo vợ đi giúp chàng trai kéo vợ. Tiêu chí những người được chọn tham gia đoàn người kéo vợ gồm 03 tiêu chí chính:

- Thứ nhất: Phù dâu, phù rể phải là người chưa có chồng, chưa có vợ, có lối sống đạo đức tốt, kính trên, nhường dưới, nói năng nhẹ nhàng có hiểu biết.

- Thứ hai: Người cầm trịch và người nữ đại diện cho nhà trai là những người có vợ chồng, con cái đầy đủ (không hoá vợ, hoá chồng), làm ăn phát đạt sống có uy tín với bản làng.

- Thứ ba: Tất cả số người này phải biết cách kéo vợ, bởi cách kéo vợ của người Hmông là cả nghệ thuật sống thực sự, chính cô gái bị kéo là người chịu ảnh hưởng lớn, nếu không biết cách kéo, khi kéo sẽ bị sứt đầu mẻ chán làm đau đớn cho người bị kéo, khi đôi co với người thân và cô gái bên nhà gái.

Trước khi đi cả đoàn người hội ý thống nhất, khi đi chia theo tốp để tránh sự nghi ngờ của người khác. Con trai và phù rể đi trước, phù dâu và người đại diện mẹ nhà trai theo sau, người đàn ông cầm trịch nhà trai và tốp con trai đi kéo hộ đi sau cùng. Khi tới điểm hẹn nhà trai bố trí sẵn cho con trai mình hẹn gặp người yêu đến cùng tâm sự tại một địa điểm thuận lợi như đón đường nhà gái đi làm, đi chợ hay đi chơi xuân ngày tết… Mọi người nấp vào các bụi rậm hai bên đường để lại chàng trai và phù rể dạo bộ để đón gặp bạn gái, khi thấy người yêu xuất hiện thì chàng trai chủ động chào hỏi tán tỉnh giữ chân cô gái lại nói chuyện một lúc để cô gái không đề phòng nữa.

- Bắt đầu kéo: Chàng trai tán tỉnh cô gái một lúc thấy thuận lợi, chàng trai tóm lấy tay cô gái nói: Lần này ta kéo nàng về làm vợ ta đây. Nói xong chàng trai giữ chặt lấy người yêu lại, những người kéo giúp sám vào hai người biết kéo tì vai vào nách cô gái, quẳng hai cánh tay vào vai của hai người kéo giữ chặt lại cứ thế nhấc bổng cô gái lên mà chạy về nhà chồng, kéo kiểu này là người biết cách kéo, không gây thương tích cho người bị kéo, chân người bị kéo không chạm đất, không có lực giằng co, không đánh trả được, mồm không thể cắn ai được. Hai người kéo cô gái đi một quãng xa thấy mệt thì hạ cô gái xuống và giữ chặt, hai người khác đến thay thế và đưa cô gái về đến nhà trai.

Nếu như gặp phải sự phản ứng gay gắt của người nhà gái thì hội kéo cứ thế  kéo cô dâu đi, để lại người cầm trịch hát đối đáp với người nhà gái, chú rể ở lại với người cầm trịch để tạ lỗi với người nhà gái, phù dâu, phù rể cùng cô dâu về nhà trước. Khi về đến gần nhà trai, đoàn người kéo vợ cử một người chạy trước về báo với những người chờ sẵn trong nhà như bố, mẹ hay các cô, chú của chú rể bắt một đôi gà, một gà mái tơ, một gà trống chưa gáy đợi sẵn ở cửa chính khi đoàn người kéo cô dâu về đến đó thì người đó làm lý gọi hồn. Lúc đoàn người về đến cửa thì chưa vội đưa cô dâu vào nhà, người ta giữ cô dâu, chú rể ở ngoài cửa chính, người làm lý đốt ba nén hương tay cầm đôi gà huơ huơ chân, cào cào từ đầu đến chân cô dâu, chú rể lẩm bẩm gọi hồn, xong xuôi mang gà mổ thịt làm cơm tiếp đãi đoàn người đi giúp kéo cô dâu. Trong bữa cơm này nhà trai mời một người có hiểu biết cùng ăn cơm, sau đó giúp nhà trai sang nhà gái báo tin cho nhà gái biết, nhà trai đã kéo được con gái họ về làm dâu nhà trai. Nhà trai mang lễ vật báo tin là một gói thuốc lá tự trồng, một sừng trâu rượu. Khi người báo tin đến nhà gái, nhà gái đi mời ông bác hay chú đến nhà đại diện cho nhà gái tiếp người báo tin. Người báo tin mời thuốc, mời rượu cho người đại diện nhà gái và cả những người có mặt trong nhà gái xong, người báo tin chính thức rót hai chén rượu đưa cho người đại diện nhà gái và dạm hỏi lễ vật mà nhà gái cần thách và thời gian để làm lễ cưới. Khi đã được nhà gái công bố các lễ vật xong, người báo tin về nhà trai báo lại toàn bộ sự việc các loại lễ vật cho nhà trai, thời gian để hai bên tổ chức lễ cưới.

Từ khi kéo được cô dâu về, nhà trai bố trí cô dâu và phù dâu ngủ chung ba đêm, sáng thư ba giã bánh dầy đưa cô dâu về nhà lấy đồ thay. Đoàn người đi sang nhà cô dâu lấy đồ gồm cô dâu, chú rể, phù dâu, cha hay mẹ chú rể, khi đến nhà gái chú rể phải quỳ lậy tất cả các thành viên nhà gái để làm quen. Nhà gái tổ chức bữa cơm tiếp đãi nhà trai, tại bữa cơm này người đại diện nhà gái bà dì hay bà cô hỏi cô gái thật kỹ có thể chung sống cả đời với nhà trai được không? Khi đến nhà gái, cô gái vui vẻ trả lời và đồng ý về làm dâu nhà trai. Thấy vậy nhà gái yên tâm dọn đồ tư trang của cô gái cho cầm về nhà chồng bắt đầu một cuộc sống mới được ăn nằm chung như vợ chồng thật, mọi việc chuẩn bị cho đám cưới bắt đầu. Nếu như vừa đến nhà gái người con gái buồn rầu, khóc lóc van xin cha mẹ không muốn về nhà trai thì hôn nhân chấm rứt từ đó.

Việc làm này gần như tạo điều kiện cho cô dâu tương lai được về sống thử với nhà trai trong thời gian ba ngày, nếu qua cảm nhận trong ba ngày đó được cô dâu chấp thuận thì cuộc sống làm dâu được chính thức bắt đầu diễn ra, nếu không coi như đã chấm dứt.

 

 

Phong tục tổ chức đám cưới.

Qua việc lấy đồ thay, nếu cô dâu vui vẻ về với chú rể thì nhà trai chuẩn bị các lễ vật tổ chức lễ cưới cho đôi bạn trẻ qua việc thách lễ vật cưới của nhà gái thường thì lễ vật gồm:

-         Lợn: 01 con 50 kg

-         Rượu: 40 lít rượu nấu bằng thóc hay ngô

-         Tiền: Hai triệu đồng tiền mặt

-         Gà: 04 con luộc chín

-         Thìa gỗ: 02 cái, một túi xôi to để ăn trưa

-         Một ít thuốc lá tự trồng, một số tiền đề phòng phát sinh.

 

 

Chọn ngày tổ chức đám cưới:

Vào mùa đông – xuân chọn ngày thìn và các ngày khác trong tuần tuỳ theo sở thích của nhà trai, nhưng thường thì người ta trừ ngày lập xuân của năm đó (ngày có tiếng sấm đầu tiên của năm) và các ngày con giáp có tính độc ác như ngày dần, thân, ngọ… Các ngày mất của người thân trong hai nhà trai và gái.

Vào mùa hè – thu thường bỏ ngày thìn. Người Mông cho rằng vào mùa này rồng hay tác oai, tác quái làm mưa làm gió, đám cưới chọn ngày này vợ chồng trẻ sống với nhau hay bị đảo lộn cuộc sống.

 

 

Ban tổ chức lễ cưới.

 

 

a)    Bên nhà trai gồm có:

 

 

- Một ông Trưởng ban người Mông gọi là “Txir tuôv minhx cungz”;

 

 

- Một ông phó ban người Mông gọi là “Txir lưv minhx cungz”;

 

 

- Chú rể;

 

 

- Cô dâu;

 

 

- Một cô phù dâu;

 

 

- Một anh phù rể;

 

 

- Một người dắt lợn một người thồ rượu, hai người này gọi là khách chuyển giao lễ vật (kruô xang tsax).

 

 

Ngoài ra còn có người cha của chú rể đại diện chính cho nhà trai.

 

 

b) Bên nhà gái gồm có: Hai ông trưởng, phó ban như nhà trai, một ông quan làng làm nhiệm vụ giữ trật tự đám cưới, những người thân quen hàng xóm láng giềng.

 

 

- Tại nhà trai:

 

 

Trước khi chuẩn bị đi sang nhà gái, nhà trai làm bữa cơm tiếp đãi những người trên, sau khi ăn cơm sáng xong, người nào vào việc nấy, người trưởng ban tổ chức đi trước, đến người phó ban, chú rể, cô dâu, phù rể, phù dâu sau đó là người dắt lợn, thồ rượu, đi đến nửa quãng đường mọi người chọn chỗ nghỉ ăn trưa lấy gà, xôi bẻ chia cho mỗi người một miếng thịt và nắm xôi ăn. Trước khi ăn ông trưởng ban tổ chức (Txir tuôv minhx cungz) làm lý đánh đuổi ma tà để cho mọi người đi đến nơi về đến chốn, để cho hai vợ chồng sau này không bị tà ma quấy rối để cho cha mẹ và cô dâu, chú rể sống hoà hợp. Sau khi ăn xong mọi người lại lên đường đi sang nhà gái, đây là một thủ tục trừ tà ma trong đám cưới mà đám cưới nào khi đi cũng làm, về cũng làm, không được bỏ qua.

 

 

- Đến nhà gái:

 

 

          Đoàn người nhà trai đến nhà gái đều phải đi qua cửa chính, trưởng phó ban nhà trai vào trước, đeo sừng trâu rượu và ô vào treo đúng cột ma chính trong nhà gái, đầu sừng rượu quay vào trong, tiếp đến hai người chuyển lễ vật, tiếp đến cô dâu, chú rể và đến mọi người, khi ngồi yên vị, hai bên nhà trai, nhà gái mời thuốc, mời rượu nhau xong. Hai ông trưởng, phó ban nhà trai bắt đầu câu chuyện với hai ông trưởng, phó ban nhà gái, mở đầu câu chuyện, hai ông xin chén của nhà gái uống rượu tiếp theo kiểm chứng và bàn giao lễ vật mà bên nhà gái đã thách, định sẵn cho nhà trai từ trước, nếu mọi lễ vật đủ cả số lượng và chất lượng xong, sau khi giao đủ lễ vật cho hai ông trưởng, phó ban tổ chức nhà gái thì lễ cưới được tổ chức ngay. Nếu qua kiểm chứng mà lễ vật không đầy đủ thì hai bên bàn bạc gia hạn trả đủ. Gặp phải trường hợp này thì lễ cưới kéo dài thời gian hơn.

 

 

          Sau khi giao lễ vật cho nhà gái, hai ông ban tổ chức nhà gái giao cho những người giúp việc mang lợn đi mổ thịt, lễ cưới được thực hiện.

 

 

Kiêng kỵ, cách bầy mâm, lệ ăn uống.

 

 

          Trong đám cưới người Mông thường lệ có một số kiêng kỵ nhằm tránh những ảnh hưởng xấu tới cuộc sống sau này của hai vợ chồng trẻ:

 

 

Thứ nhất: Khi nấu nướng đồ ăn không được để gáo múc nước trong thùng nước bởi như vậy khi múc nước sóng hay xô đẩy gáo hay xoay tít sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của hai vợ chồng sau này cứ loanh quanh chỗ này, chỗ nọ không ở được nơi nào cố định, cuộc sống sẽ khó khăn vất vả.

 

 

Thứ hai: Khi bầy đồ ăn lên mâm cưới không nên làm rơi vỡ bát, chén đũa thìa bởi vô tình như vậy sẽ ảnh hưởng không tốt cho cuộc sống vợ chồng trẻ sau này, sống nửa chừng đang yên đang lành thì đùng cái thì chết vợ hoặc chết chồng. Nhẹ cũng gẫy chân, gẫy tay, cuộc sống đen đủi.

 

 

Thứ ba: Không ăn muối tiêu ớt, nếu ăn muối cuộc đời sau này sẽ gặp sót xa, ăn tiêu ớt cuộc đời sẽ gặp đắng cay. Chính vì bảo vệ cuộc sống cho cô dâu, chú rể cả cuộc đời sau này được yên vui bền vững việc kiêng kỵ rất quan trọng nên mỗi khi tổ chức nhà trai phải bàn với nhà gái rất kỹ để chọn ra một người giỏi dang ngăn nắp đứng ra quản lý những người tham gia nấu nướng đò ăn một cách thận trọng.

 

 

Khi thịt chín, trước tiên họ bầy mâm múc ra mỗi thứ một ít thịt ở các tạng phủ của con lợn cưới bầy lên trên đó cho ông chủ nhà gái khấn thờ tổ tiên, sau đó mới bầy cỗ.

 

 

Quy định loại mâm.

 

 

Trong đám cưới người Mông, người ta phân ra hai loại mâm, loại mâm chính khách dành cho đàn ông thường có đặt danh như các ông trưởng, phó ban tổ chức của hai bên, quan làng, các vai vế có danh khác thường được bầy trước bàn thờ tổ tiên, thường sắp xếp chỗ ngồi từ cao xuống thấp, từ đông sang tây… Loại mâm phụ thường dành cho những người nữ chính khách hai bên và số khách tới dự bình thường bầy chỗ nào cũng được.

 

 

Cách bầy mâm chính và quy định chỗ ngồi.

 

 

Trong đám cưới của người Mông thường bầy mâm cơm chính theo chiều dài ngôi nhà, trong gian giữa hướng Đông Tây, người ta kê một dãy bàn dài để bầy thức ăn người ngồi xung quanh như hình chữ nhật. Bên đầu mâm phía Đông sát tả ly trong nhà là chỗ ngồi của bố cô dâu, cạnh bên trái phía cửa là chỗ ngồi của bố chú rể, chỗ giáp tả ly dương phía trong bàn thờ là chỗ của ông trưởng ban tổ chức bên nhà gái tiếp là ông quan làng và anh em nhà gái. Hàng ghế sát ngoài cửa chính bên tả ly âm là ông trưởng phó ban nhà trai, chú rể, phù rể và người đưa lễ vật. Sau khi ổn định chỗ ngồi người ta bầy chén, bát đĩa theo số người ngồi trên mâm, còn lại người ta sắp xếp bầy các mâm phụ ở các gian nhà khác sao cho hết chỗ khách đến dự đám cưới. Trong truyền thống của người Mông, người ta bố trí nam, nữ ăn riêng, do vậy ngoài mâm chính khách ra, người ta bầy mâm chính khác cho nữ chính khách của hai nhà trai gái ở gian bếp lò, do chị em không phải thờ cúng tổ tiên không nhất thiết phải ăn cơm trước bàn thờ tổ tiên.

 

 

Lệ ăn uống.

 

 

Theo lệ làng người Mông thường quy định uống rượu ăn cỗ phải cân bằng nên cần có người điều hành, nếu không việc uống giả dối người uống cạn, người không, nếu không cẩn thận thì khách sẽ bị đói khát do việc giữ ý xấu hổ…Gia chủ sẽ bị mang tiếng không quan tâm đến mọi người. Do đó người Mông có câu cơm có ngon hay không cũng phải ăn ba bát, rượu có ngon hay không cũng phải uống ba chén, đất có tốt hay không cũng phải ở ba năm.

 

 

Khi làm món ăn người ta lấy các bộ phận tạng phủ của con lợn đem nấu riêng từng món khi bày đầy đủ các món lên mâm, người ta cử hai người làm nhiệm vụ rót rượu và điều hành ăn uống tên gọi: Người cầm bằng (tuz tuôr tax), mọi việc xong xuôi hai người này công bố bữa ăn đã được. Lúc này ông quan làng đứng lên trịnh trọng tuyên bố bữa tiệc được tiến hành, ăn uống phải nghiêm túc không được lợi dụng rượu say sách nhiễu…

 

 

Bốn ông chủ hôn đứng lên làm lý cảm ơn nhau, mời nhau uống rượu, mời nhau thức ăn, khi ăn hai người cầm bằng luôn đi lại sau lưng của khách, kiểm tra chén, bát lần lượt từ hai ông bố đến hết mọi người trên mâm, thấy trong chén người nào hết rượu, trong bát hết thịt thì rót tiếp lần thứ hai, chén ai còn ít rượu, bát còn ít thịt thì họ rót đầy rượu, gắp đầy thịt bắt phải ăn uống hết mới được rót tiếp. Sau ba lượt chén uống rượu ông chủ hôn nhà trai xin phép cả mâm cho chú rể và phù rể làm lý tạ ơn những người đến dự đám cưới. Nhà gái lấy một chiếc chiếu trải trước cửa chính chú rể và phù rể đứng cạnh chiếu hướng vào mâm cơm chính khách và bàn thờ nhà gái khi chủ hôn đọc lời: Cùng tổ tiên ma nhà lạy một lạy, lúc này chú rể, phù rể quỳ lạy một lần, đọc tiếp vế hai: Lại nhận diện, hai người lạy một lần. Việc này diễn ra hết những người có danh vế trong đám thì mọi người ăn cơm, sau bữa cơm số người nhà trai chuẩn bị ra về. Lúc này cả đám cưới rộn vang tiếng nói tiếng cười hát hò đưa đón dâu. Các anh em trai bên nhà gái thì ai cũng cầm bầu rượu, chén chúc trong tay nhằm làm quen và chúc mừng cho chú rể qua những bài hát đối đáp say đắm. Chị em phụ nữ cũng không kém, người nào cũng má hây hây đỏ tay cầm bầu rượu đi chúc mừng cô dâu. Bước tiếp theo là uống rượu thích (tới) nhà gái bố trí nam thanh nữ tú chưa vợ chưa chồng mỗi người một bầu rượu để uống với những người cùng trang lứa bên nhà trai. Những ông cụ bà cụ bảy tám mươi tuổi cũng cầm chén rượu thủ thỉ cất lên những câu hát thời còn trẻ. Cả đám cưới biến thành một cuộc đua tài ca hát của nhiều đối tượng khác nhau như một hội hát thực thụ, một cơ hội gặp gỡ làm quen kẽo dài mãi không ngừng.

 

 

Lúc này đòi hỏi chủ hôn và nhà trai giỏi hát đối đáp mới nhanh thoát khỏi nhà gái. Khi về đến nhà trai, những người khá giả thì tổ chức đám cưới lần thứ hai tại nhà trai việc tổ chức này chỉ mang ý nghĩa thiết thết đãi cảm ơn những người giúp việc, mọi thủ tục không nhiều nên còn tuỳ thuộc vào từng gia chủ với hoàn cảnh cụ thể.

 

 

Kết luận:

 

 

Trong việc cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam ta rất phong phú và đa dạng, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền đều có lễ thức truyền thống tổ chức cưới hỏi từ lâu đời tồn tại trong cộng đồng dân tộc từng vùng miền. Tuy nhiên việc bảo tồn và duy trì những hình thức cưới hỏi này cho tới nay ít bền vững, do bản thân nó còn chứa đựng một số tập tục lạc hậu và sự đua đòi của một số ít người. Còn một số người hay buông lỏng sự quan tâm không gìn giữ và phát triển nó cho đời sau, đi đôi với việc kinh tế còn khó khăn vô hình chung các dân tộc mong muốn việc cưới hỏi đơn giản bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Hiện nay việc cưới hỏi của dân tộc các vùng miền gần giống nhau với cùng ý nghĩ ăn góp ăn trả. Đến dự đám cưới ai đến trước ăn trước, ai đến sau ăn sau vội vàng nộp phong bì xong về luôn, tình trạng này gần như diễn ra từ thành thị đến nông thôn. Tổ chức như vậy sẽ làm mất đi sinh hoạt văn hoá trong cưới hỏi, có nguy cơ đánh mất luôn giá trị văn hoá truyền thống trong cưới hỏi mà cha ông ta đã dày công gây dựng nên.

 

 

Trong việc cưới hỏi của người Mông Sa Pa ít nhiều cũng bị ảnh hưởng như trên, may thay họ vẫn còn lưu giữ được. Sa Pa là vùng du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước. Du lịch phát triển, truyền thống văn hoá các dân tộc được coi trọng, văn hoá cưới hỏi, phong tục kéo vợ được đưa ra thành những chương trình biểu diễn sinh hoạt văn hoá chợ (chợ tình Sa Pa) là một hình thức đặc biệt còn nguyên bản sắc văn hoá riêng của người Mông Sa Pa ít nơi nào còn tồn tại. Qua bài viết này, rất mong nhận được sự chia sẻ quan tâm và bảo tồn những giá trị văn hoá còn tồn tại trong mọi vùng miền để đóng góp phong phú cho văn hoá nước nhà

 

 

 

5. Phong tục cưới hỏi dân tộc Thái đen Điện Biên


Việc hôn nhân của các cặp nam – nữ thanh niên khi trưởng thành, đã trở thành quy luật và nguyên tắc chung chủa toàn xã hội nói chung, dân tộc Thái Điện Biên nói riêng. Nam nữ thanh niên kết hôn là bước ngoặt của cả cuộc đời … họ sẵn sàng đến chung sống với bạn đời trăm năm của mình để xây dựng tổ ấm gia đình? Do vậy giữa hai gia đình nhà trai – gái sẽ có những quy ước với nhau rất chặt chẽ thể hiện các nguyên tắc nghi lễ, nghi thức; nhất là về tư tưởng luôn thường đạo lý… khi tổ chức lễ thành hôn cho đôi lứa thanh niên cặp vợ chồng, đã trở thành thuần phong mỹ tục dân tộc Thái cho đến ngày nay.

Song trong quá trình phát triển, các nghi lễ cưới hỏi dân tộc Thái nay đã chịu ảnh hưởng và tiếp thu một số nội dung nghi lễ cưới hỏi theo trào lưu văn hoá mới của xã hội. Tuy nhiên tiếp thu nội dung có tính chọn lọc và được Thái hoá, phù hợp với các yếu tố kinh tế, xã hội, nhưng không làm mất đi bản sắc văn hoá Thái, qua các bước cưới hỏi.

 

 

A. PHONG TỤC ĂN HỎI:

Lấy vợ, lấy chồng"bạn đời trăm năm" đối với dân tộc Thái là việc rất hệ trọng, có ý nghĩa lớn đối với lứa đôi; hơn nữa thắt chặt mỗi quan hệ giữa hai gia đình, hai họ nhà trai và nhà gái… Do vậy họ rất thận trọng trong việc kén rẻ, kén dâu, nên có câu:

          "Lấy vợ xem tông, tậu trâu xem giống"

Song: Gái yêu chỉ để trong tâm

          Trai yêu quyết lấy bằng được!

Nhà trai chủ động sang đặt vấn đề về đôi trai gái giữa hai gia đình:

 

 

I. Sang thăm dò (Phay chám)

Bố mẹ chàng trai nhờ mấy bà khéo ăn nói trong họ sang nhà gái chơi thăm (đi không) nói chuyện vui đùa băng quơ về đôi trai gái đó: Thăm dò tìm hiểu về gia phong dòng họ, tốt, xấu, quan hệ xã hội… gia đình nhà gái ra sao? thăm dò nói chuyện xong thì xin phép về. Các bà báo cáo cuộc tiếp xúc bên nhà gái và có những lời nhận xét tốt xấu… Bố mẹ nhà gái cững ưng thuận và nhà trai thấy được…

 

 

II. Sang ướm hỏi (pay mai)

Nhà trai xét thấy nhà gái là gia đình hoà thuận, có nề nếp, con cái ngoan, chăm chỉ học hành… Do vậy đợt hai đi ướm hỏi, bố mẹ con trai nhờ ông (bà) mối đi theo để thây mặt nhà trai thưa chuyện về luật tục xe duyên cho đôi trai gái… Nhà trai mang sang một đôi gà (Trống + mái), hai chai rượu để làm bữa cơm tiếp bố mẹ nhà gái. Sau khi vào mâm hai bên nhà trai, nhà gái chúc nhau vài chén rượu thì chuyển sang nói chuyện về luật tục… đạo lý bản mường (xoay quanh về duyên số của đôi trai gái)… ví dụ:

 

 

Nhà trai:…

Muốn được đến ở cậy nhờ bóng mát nơi cha mẹ

Xin hầu đóm hầu lửa

Xin lấy giống mài hoa

Day mài tốt

Giống vải đẹp sợi nhỏ "phứm xáo"

Muốn được hạt giống về trồng

Muốn được con gái của cha mẹ về dựng nhà dựng cửa!

 

 

Nhà gái:…

Nói chơi một tý đỡ buồn thôi chú!

Có gì xin hãy nói thật

Mỗi lần đến thăm

Một lần đến ứôm hỏi

Nếu muốn lấy thật sự thì sao lại đến nữa

Hai bên phải hỏi con mình cho kỹ đã

Muốn ăn phải kiên tâm

Muốn được phải kiên trì…

Thông qua nói chuyện rất tế nhị, rất văn hoá hai gia đình đã hiểu ý nhau, nhất trí đồng tình.

 

 

III. Sang ăn hỏi đứt giá trầu cau

- Nhà trai mang sang một đôi gà (trống + mái), hai chai rượu, hai gói vỏ chay, hai gói trầu cau, ngoài ra rượu, thịt thêm đủ tiếp nhà gái.

1. Mâm lễ trầu cau: được bày giữa sàn nhà, ông, bà, bố, mẹ bên nhà gái vào ngồi phái đầu mâm, bên nhà trai ngồi phía cuối mâm; ông (bà) mối thay mặt nhà trai thưa chuyện về luật tục xe duyên trai, gái khi trưởng thành phải xây dựng gia đình… và bên nhà gái có lời đáp lại… (bà đối đáp xe duyên), ví dụ:

 

 

- Nhà trai:

Như chỗ cha mẹ đây

Là nơi quen cũ, chốn gửi lòng

Nơi phát tán rộng, "Lúng ta" cũ

Là anh em thân hữu từ xưa

Mới mở cửa rộng, cậy cửa đón

Bắc cầu cho qua, bắc thang cho lên

Lên đến nhà, đến cửa

 

 

Xin mang gói trầu đến gửi

 

 

Gói câu đếm dạm

 

 

Xin được làm lễ đứt giá trầu cau với "Lúng ta"

 

 

- Nhà gái:

 

 

Nhà trai thưa với bố mẹ

 

 

Cha mẹ chàng nhờ ông mối bà mai đến tạn nhà "Lúng ta"

 

 

Đưa lời hay tiếng tốt

 

 

Có gói trầu đến hỏi

 

 

Gói cau đến dạm

 

 

Xin làm lễ đứt giá trầu cau với "Lúng ta"

 

 

Kể từ ngày, giờ này hai bên đã chính thức đặt vấn đề dứt điểm, không được thay lòng đổi dạ, con trai, con gái như đã có vợ, có chồng… Hai gia đình thống nhất ngày tốt, giờ đẹp để nhà trai sang nhà gái tổ chức cho hai con xong, nhà trai mở gói trầu cau ra mời nhà gái và mọi người trong mâm chai một miếng trầu cau và tạm kết thúc.

 

 

2. Nhà trai tiếp rượu:

 

 

Thực phẩm nhà trai mang sang và chủ động mổ, chế biến món ăn… bày mâm xong nhà trai mời nhà gái vào mâm! Vị trí ngồi như mâm lễ trầu cau, nhà gái ngồi phía đầu mâm, nhà trai ngồi phái dưới, phía yêu cầu người ta gả con gái cho mình, nhà trai phải tiếp và hầu rượu nhà gái. Đại diện nhà trai tuyên bố lý do… và mời nhà gái cùng nâng chén rượu chúc sức khoẻ nhau… sau đó nói chuyện về luật tục… giống như ở mâm lễ trầu cau… ví dụ:

 

 

- Nhà trai:

 

 

Lên đến nhà đến cửa

 

 

Lẽ ra:

 

 

Phải có mâm cỗ đẹp, bàn cỗ to đặt xuống mời "lúng ta"

 

 

Có đĩa đầu gà, cá gỏi tiếp đón bố mẹ bên này

 

 

Nhưng chúng tôi là nhà trai còn nhiều khó khăn

 

 

Chỉ có một chút gọi là theo lệ tục không thể bỏ qua

 

 

Xin"Lúng ta"

 

 

Chua đừng chê, ngọt đừng trách nhé…

 

 

- Nhà gái:

 

 

Cha mẹ, họ hàng của rể quý lên đến cửa đến nhà

 

 

Có mâm cỗ to, bàn cỗ đẹp

 

 

Rót rượu mời "Lúng ta"

 

 

Chúng tôi bên họ nhà gái xin vui mừng đón nhận…. xin chúc

 

 

cho bố mẹ, họ hàng của chàng rể mạnh khoẻ, sống lâu, làm ăn

 

 

phát đạt…

 

 

B. CÁC BƯỚC LỄ THÀNH HÔN:

 

 

Nhà trai mang sang nhà gái đủ xính lễ, vật cưới thì tiến hành các bước theo phong tục:

 

 

I. Lễ chải chăn đệm:

 

 

Đến giờ tốt bốn bà đã được chọn, tiến hành thủ tục chải chăn đệm cho cô dâu chú rể, nơi gian buồng cô dâu theo thứ tự: chải chiếu cô dâu trước đến chiếu chú rể chải lên trên; đệm cô dâu đến đệm chú rể; ga đệm cô dâu đến ga đệm chú rể; hai gối cô dâu chú rể đặt sát vào nhau, tiếp theo chân cô dâu chải xuống, chân chú rể phủ lên trên.

 

 

Bốn bà làm thủ tục chải đệm, cùng đó vừa có lời cầu may hạnh phúc cho cô dâu chú rể:

 

 

Chải đệm cho dầy

 

 

Chải chăn cho rộng

 

 

Chải đệm rộng lấy con gái con trai nhé!

 

 

Cuối cùng bốn bà mắc màn cưới rồi buông xuống chùm kín cả chăn đệm.

 

 

II. Lễ búi tóc ngược (Thái đen)

 

 

Cử một bà trong bốn bà chải chăn đệm cho cô dâu chú rể tiếp tục làm lễ búi tóc cho cô dâu; Mâm lễ đặt phía gian phòng cô dâu gồm:

 

 

- Đồ xích lễ búi tóc bố mẹ chồng đưa sang:

 

 

Hai búi tóc độn, Một cái châm cài tóc bằng bạc, tám sải vải trắng tự dệt, tám sải vải thổ cẩm, một sải thắt lưng tơ tằm, tiền nhiều ít tuỳ khả năng.

 

 

- Tặng phẩm bố mẹ vợ mừng lễ búi tóc cho con gái:

 

 

Bốn sải vải trắng tự dệt, bốn sải vải thổ cẩm, một sải thắt lưng tơ tầm, tiền nhiều hay ít tuỳ khả năng, một cái lược, một bát nước lã… để chải tóc cô dâu

 

 

Mâm lễ búi tóc chuẩn bị xong, cô gái sắp thành cô dâu, mặc váy áo đẹp và mặc áo dài mới choàng ra ngoài; song bà mẹ cô gái dắt tay cô gái đến ngồi bệt xuống chiếu trước mâm lễ búi tóc, có câu:

 

 

Ngồi xổm, ngồi bệt xuống giữa nhà

 

 

Búi tóc to đến duối giữa "quản"

 

 

Búi tóc mượt đến duối giữa nhà…

 

 

Bà mẹ thả duối tóc con gái xuống cho bên nhà trai tiến hành thủ tục búi tóc ngược (tẳng cẩu), bà được chọn đến chải tóc duối xong, lại nằm tóc chải ngược lên, lấy hai búi tóc độn trong mầm lễ độn thêm, sau đó búi tóc lên trên đỉnh đầu cô dâu cưới chồng; tiếp theo lấy trâm bạc trong mâm lễ cài lên búi tóc, lấy vòng cổ, vòng tay đeo cho cô dâu (nếu có).

 

 

Xong lễ búi tóc, bà mối thay mặt nhà trai có lời cảm ơn nhà gái đã có sự quan tâm, đồng tình ủng hộ, tạo điều kiện cho nhà trai tiến hành làm lễ cho hai con đạt kết quả tốt đẹp, thành vợ, thành chồng; Nói xong họ đẩy đôi vợ chồng mới vào trong màn cưới, một lúc sau mới được ra khỏi màn và đi tiếp khách bình thường.

 

 

III. Xướng lễ báo ma nhà:

 

 

Là phong tục không thể thiếu của dân tộc Thái, báo với tổ tiên…… Ví dụ:

 

 

Không nói không biết việc

 

 

Không xưng không biết tên

 

 

Không biết tên với bà "Liếng"

 

 

Không biết việc với con cái

 

 

Nàng "A" là chủ áo này

 

 

Bây giờ họ nhà trai đã tìm kiếm được

 

 

Có rượu, lợn, trầu cau đến báo ma nhà tổ tiên……..

 

 

Đưa hai vợ chồng trẻ đến lậy, ra mắt tổ tiên, mà nhà!

 

 

Chàng "B" con người ta giờ thành con rể tổ tiên nhà gái, hãy phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ có con trai con gái với nhau, làm ăn phát đạt, vạn sự như  ý…

 

 

(hai vợ chồng trẻ lậy xuống một lậy)

 

 

IV. Rượu mừng lễ thành hôn:

 

 

Mo xướng lễ ma nhà xong! nhà trai cũng bày cỗ xong và mời khách hai họ nhà trai và nhà gái…….. cùng vào mâm, chủ hôn tuyên bố lý do; Hai gia đình nhà trai, nhà gái cùng nâng chén rượu chúc mừng hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ…. sau đó ăn mừng xong là kết thúc!

 

 

* Nhận xét chung: Hiện nay dân tộc Thái Điện Biên đa số thực hiện theo phong tục cưới hỏi như trên; Tiến hành các bước nhanh gọn, nhưng rất nghiêm túc và đầy đủ thủ tục, lời đối đáp, khuyên bảo hài hoà tế nhị, có bài bản đặm đà bản sắc dân tộc như: Các bước ăn hỏi, nhất là tổ chức lễ thành hôn: Lễ chải chăn đệm cho cô dâu chú rể; lễ búi tóc ngược (Thái đen) cho cô dâu… rất có ý nghĩa và đấy cũng là nội dung chính của cuộc hôn lễ mà thời gian tiến hành diễn ra nhanh gọn, ít nhân lực và ít tốn kém… cần được bảo tồn và phát huy.

 

 

Những nội dung không phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội sẽ tự loại bỏ như: ở rể, vòng cổ, vòng tay, dây sợi tích, cúc bướm… hoặc ăn uống kéo dài hai ngày đêm tốn kém, hại sức khoẻ, mất thời gian… nay không còn nữa, cũng là bước tiến bộ của dân tộc Thái.

 

 

Dân tộc Thái dễ tiếp thu và bắt chước cái mới; Bắt chước cách tổ chức hôn lễ ở thị xã, thành phố, song nó cũng không phải mô hình chuẩn mực… nên đã phá vỡ những nét đẹp truyền thống của dân tộc; hiện nay khâu tuyên truyền về việc cưới, việc tang mới dừng lại ở: phải thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí… nhưng thực tế chưa có mô hình hay hướng dẫn, áp dụng, cần phải được nghiên cứu để tuyên truyền./.

 

 


 

 

6. Phong tục hôn nhân của người Cơ Ho


Theo số liệu tổng điều tra tháng 4 năm 1999, cả nước ta có 129.723 người (ước tính hiện nay là 158.000 người) thì ở Lâm Đồng là nơi có nhiều người Cơ Ho cư trú nhất (113.200 người và Lâm Đồng được coi là quê gốc của người cơ Ho. Số còn lại được phân bố ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận.

Tộc người Cơ Ho có nhiều nhóm với tên gọi là Cơ Ho Srê, Cơ Ho Cơ Ròn, Cơ Ho Nộp, Cơ Ho Lạch và Cơ Ho Chil.

Trong hôn nhân của người Cơ Ho, dù ở nhóm Cơ Ho nào cũng đã và đang duy trì tính chất mẫu hệ (con gái cưới chồng, con trai ở rể, con cái lấy họ của mẹ). Trình tự hôn nhân của người Cơ Ho như sau:

Đối với người Cơ Ho, chủ động hôn nhân thuộc về con gái. Nếu cô gái ưng chàng trai nào trong buôn hoặc ngoài buôn, sẽ báo với bố mẹ nhờ người mai mối đi cùng với em trai ruột của mẹ mình đến nhà trai để đánh tiếng rằng: cô A muốn bắt anh B làm chồng. Nếu chàng trai đồng ý thì nhà gái xin ngày dạm hỏi. Người mai mối đem lễ vật gồm gà, rượu, chuỗi hạt cườm… sang nhà trai làm lễ hỏi (nếu chàng trai không đồng ý để cô gái bắt làm chồng sẽ tìm mọi cách từ chối, nếu không chối được, đợi khi nhà gái đến xin cưới sẽ thách cưới thật cao để nhà gái nản lòng mà bỏ). Nhưng xưa nay chuyện này hiếm gặp trong cộng đồng người Cơ Ho.

Sau lễ hỏi là lễ xin cưới. Lễ xin cưới cũng gồm hạt cườm, vòng đồng, rượu, gà… Trong ngày xin cưới nhà trai có quyền thách cưới. Tuỳ hoàn cảnh nhà gái, vật thách cưới có thể là gà, rượu cần, cao hơn là trâu, chiêng, ché. Khi nhà gái chấp nhận số lượng lễ vật thách cưới thì đến ngày cưới đem lễ sang nhà trai. Nhà trai đặt lễ của nhà gái lên bàn thờ nhà mình cúng tổ tiên, thông báo với tổ tiên rằng con trai trong gia đình đã gả bán cho nhà gái từ ngày hôm nay. Sau khi cúng lễ ở nhà trai, họ hàng nhà gái rước rể về, tổ chức đám cưới tại nhà mình. Nhà trai cử một số anh em họ hàng và bạn bè của chú rể đưa chú rể về nhà… vợ. Trong ngày cưới của nhà giá, Già làng hoặc người cậu ruột của cô dâu tế lễ trước bàn thờ tổ tiên và cúng Yàng cầu mong cho đôi trẻ hạnh phúc. Tiếp đó đôi vợ chồng trao còng cho nhau. Sau đó Già làng và người em trai mẹ cô dâu co lời dặn dò vợ chồng trẻ ăn ở chung thuỷ. Tiếp đến là ăn uống kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Trai gái trong buôn cùng nhảy múa ca hát. Sau ngày cưới chú rể ở hẳn nhà gái. Con cái sinh ra mang họ mẹ.

Một điều đáng chú ý là nếu nhà gái chưa đem đủ lễ vật thách cưới, chú rể và cô dâu sẽ ở nhà chồng đến khi trả đủ lễ vật, chú rể mới về nhà vợ. Có trường hợp do hoàn cảnh nhà trai khó khăn, cô dâu có thể ở nhà chồng một thời gian rồi hai vợ chồng mới về ở hẳn nhà mình.

Nhìn chung, phong tục hôn nhân, trình tự tiến hành hôn nhân đã nêu ở trên là những nội dung cơ bản của hôn nhân trong cộng đồng người Cơ Ho. Nhưng tại các nhóm người Cơ Ho khác nhau thì hôn nhân cũng có những điểm khác nhau – ví dụ: người Cơ Ho Nộp, sau ngày cưới chú rể ở nhà vợ một thời gian, sau đó vợ chồng có thể ở riêng. Người vợ có thể sinh đẻ ở trong nhà, không phải làm chòi ở ngoài rẫy đẻ một mình như những người Co Ho khác hoặc như tục lệ của một số dân tộc ít người khác của Tây Nguyên. Đáng lưu ý là trong buôn lỡ có cô nào không chồng mà chửa cũng được sinh đẻ tại nhà.

Nhóm Cơ Ho Chil thì nhà trai thử thách nhà gái 3 đến 5 năm mới cho cưới. Nhà gái phải giúp nhà trai tiền vốn, heo gà và thóc giống để làm ăn sau khi cưới.

Hiện nay hôn nhân người Cơ Ho đã tiến bộ và giản tiện về thách cưới, về tổ chức ăn uống linh đình. Không còn chuyện các cô gái thích ai thì bắt bằng được người đó. Tuy nhiên dù năm nữ được tự do tìm hiểu nhưng chuyện cưới xin vẫn là do nhà gái chủ động. Việc con cái sinh ra phải mang họ mẹ chính là yếu tố nguyên thuỷ vẫn được duy trì trong xã hội hiện đại. Chúng ta chủ khẳng địnhtính chất mẫu hệ trong cộng đồng người Cơ Ho mà không coi đó là chế độ mẫu quyền bởi vì trong các gia đình người Cơ Ho, từ xưa nay người chồng vẫn là đồng chủ nhà với vợ, cũng có quyền quyết định mọi việc, con trai con gái trong gia đình có quyền ngang nhau. Hàng chục thế hệ đã qua và cho đến ngày nay, người Cơ Ho vẫn đề cao hôn nhân một vợ một chồng. Những hành vi đi ngược với chuẩn mực đạo đức như ngoại tình, loạn luân, ly hôn không lý do… sẽ bị xử phạt. Nhẹ thì phạt trâu, rượu. Nặng thì ngoài việc bị phạt còn có thể bị đuổi ra khỏi cộng đồng. Đây là quy định nghiêm ngặt nhưng rất tiến bộ đã có từ xa xưa trong cộng đồng người Cờ Ho./.

 

 

 

 

 

7. Cưới hỏi của người M’Nông – Dao


Người M’Nông cư trú khu vực Tây Nam Tây Nguyên. ở bốn tỉnh: Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Bình Phước số dân khoảng 67 nghìn người.

Đến thời điểm này gia đình của người M’Nông vẫn chủ yếu là gia đình mẫu hệ, con sinh ra thuộc dòng họ mẹ. Cư trú được xác định sau hôn nhân chủ yếu là sống ở nhà vợ, một vài địa phương xuất hiện hình thức cư trú song phương rồi ra ở riêng. Trong gia đình người nữ đứng vai trò chủ đạo nhưng người đàn ông vẫn được vị nể quyền thừa kế tài sản thuộc về người con gái út.

Với Người dân M’Nông, sính lễ được coi như khoản tiền đền bù đôi chút giá trị lao động của người bên này sau khi cưới sang ở nhà bên kia. ở các nhóm M’Nông, Rlăm, Prâng, Pren, Nong… Nếu sau lễ cưới vợ chồng sinh sống ở bên nào thì bên ấy gánh vác khoản tiền đền bù.

Nam nữ thanh niên M’Nông đến lúc thanh niên thường phải cưa răng và có quyền đi lựa chọn người yêu để tiến đến hôn nhân. ở một vài nơi có tục đính ước cho con cái khi chúng còn là vị thành niên, những việc đính ước đấy mong trở thành hiện thực. Nếu xảy ra việc từ hôn sau đính ước chỉ cần tiến hành một món lễ nhỏ và trả lại phía bên kia, một kỷ vật mà thông thường là chuỗi hạt cườm.

Hiện nay cưới hỏi có nhiều thay đổi, việc cưới hỏi phần nhiều do phía nhà trai đứng ra chủ trì. N’Dranh là người trung gian để dàn xếp giữa nhà trai và nhà gái. Mỗi bản làng thường 1, 2 người D’ranh (tức là người làm mối) họ đều là những người đúng mực, ở độ tuổi ngũ tuần. Hai vợ chồng người làm mối phải song toàn, sống vui, sống đẹp, sống hạnh phúc. Mang lộc đến cho đôi trai gái.

Ở mỗi nhóm M’Nông, tập quán cưới xin có hơi khác nhau một chút, nhưng cái cốt yếu vẫn phải trải qua ba bước: Sa vu hay săm suông, sô nốp, tâm ốp và tâm sông tương tự như ba bước chính trong hôn nhân của người Kinh (lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới).

Sau là lễ thức mà người mai mối thay mặt cho nhà trai đem hai ống lồ ô đựng lễ vật đến nhà gái cầu hôn. Nếu họ ưng thuận thì nhận hai ống lồ ô, nếu nhà gái từ hôn thì gửi cho ông mối một bát gạo để đưa đến nhà trai. Trường hợp nhà gái chấp nhận thì bước nghi lễ thứ hai được tiến hành bàn bạc với quyết tâm xây dựng của hai phía.

Tâm ốp là nghi lễ đóng vai trò thông báo chính thức đến họ hàng, bè bạn và dân làng biết việc tiến hành hôn nhân của đôi trai gái một cảnh thông tỏ ngõ ngàng. Trong nghi lễ này bên nhà trai cử người đến nhà gái đem theo một số lễ vật như: hạt cườm, lược sừng, vòng đồng, con lợn chừng 20kg, một ché rượu bằng sành hay sứ là đặc biệt là khoảng từ 20- 30 ống măng chua cùng với da trâu nuôi. Tại buổi vui mừng họp mặt này việc cư trú của đôi tân hôn sau khi lễ thành hôn sẽ được thỏa thuận theo luật tục.

Tâm  NSông là nghi lễ đưa đôi tân hôn về ăn ở với nhau. Tiệc cưới được tổ chức long trọng ở cả hai bên gia đình và kéo dài đến vài ba hôm sau. Ăn chỉ có thịt và rượu thôi không mâm cao cỗ đầy nhưng thắm tinh dân tộc. Nếu một đám cưới mà sau đó chú rể cư trú tại nhà vợ thì nghi lễ được nhà trai đem biếu tặng mỗi người trong gia đình nhà gái một bát gạo đầy để sau đó sẽ tặng lại mỗi người trong gia đình nhà trai một ché sành hay sứ để ủ rượu cần. Lễ thực được tổ chức chủ yếu ở bên cây cột chính giữa nhà, trên thân cột đó hai người làm chứng buộc một con dao chà gạc. Ông mối đứng làm chủ lễ lẩu tân lang và tân giao nhân đến bên cây cột rồi cầm tay họ đặt lên một chiếc chà gạc và căn dặn về bổn phận của vợ chồng sau khi cưới, sau khi xong thủ tục lễ nghi là cuộc vui say giữa họ hàng thân thuộc mừng vui chúc tụng cô dâu chú rể bách niên gia lão. (Quần áo cưới màu chàm giản dị, ít hoa văn).

Theo tập tục của người M’Nông, vợ chồng ở luôn trong nhà một tuần sau ngày cưới gọi là “ở cữ’ sau đó là tuần lại mặt, một tuần nữa đôi vợ chồng mới cưới được sự chúc lành của ông mối hay bà mai khi họ đến thăm và tặng vị mai mối bát gạo đầy… Tuy đơn sơ bình dị nhưng tỏ ra cung kính, trọng nghĩa vẹn tình.

Những nét đẹp ở trên phản ánh trung thực phong tục cưới hỏi đã được thực hiện từ lâu đời ở miền Tây Nam và Tây Nguyên. Đơn giản, mộc mạc gọn nhẹ nhưng mang đầy tính nhân văn, xung quanh vấn đề cưới hỏi, chỉ cần đến những chét rượu bằng sành hay bằng sứ, da trâu, thị lợn, măng gạo… mang sang nhà gái một số lễ vật như hạt cườm, lược sừng, vòng đồng, lợn quay thế là ổn.  Khẩu phục là món ăn truyền thống không thể nào thiếu được với người dân tộc.

Dù là mẫu hệ hoặc nửa mẫu hệ luật lệ đã có từ lâu đời của người M’Nông, Nhưng người đàn ông vẫn được tôn trọng. Khác hẳn với đi ở rể của người Kinh là bị phụ thuộc tới 70%. Đồ sính lễ đây là tự nguyện đầy thiêng liêng và cao cả gọi là đóng góp một phần nào để xây dựng tổ ấm chung.

Người M’Nông có thịt có gạo, có rượu, măng rừng, nấm hương, mộc nhĩ là vấn đề cưới hỏi đã được 90% rồi. Không có tiền vẫn lo tốt. Đây là một tấm gương sáng đáng được nhân lên, tự túc tối đa, không xa hoa lãng phí là giải  pháp tối ưu để từng bước tiến lên cưới hỏi theo đời sống mới.

Việc cưới hỏi của người Dao có khác hơn, họ sống đông nhất ở các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lai Châu, Lạng Sơn… Hiện nay ở nước ta có hơn 30 nhóm người Dao các nhóm người Dao chính gồm: Dao đỏ. Dao tiền, Dao quần chẹt, Dao cóc mùi, Dao trâng, Dao sừng đỏ… Người Dao có nhiều tiến bộ và văn minh hơn các dân tộc khác. Họ không những sống bằng nghề lúa nương và lúa nước mà còn trồng hoa mầu và trồng lanh dệt vải từ rất sớm. Kỹ thuật canh tác của người Dao có nhiều tiến bộ mặc dù nông cụ sản xuất của họ còn thô sơ và nghèo nàn. Một số nghề thủ công nghiệp của người Dao cũng sớm phát triển như: dệt vải, rèn dụng cụ, mộc, làm giấy, ép dầu, mây tre đan… Họ thường đem các vật dụng làm được đổi lấy hàng hóa hoặc đem chúng ra chợ bán. Chăn nuôi trâu ngựa, dê, chó, lợn, gà… của người Dao cũng hết sức phát triển, thức ăn chủ yếu của người Dao là măng, đôi khi cũng có thịt cá. Người Dao thường giết mổ gia súc, gia cầm vào những ngày lễ hội, tết nhất, ma chay và đặc biệt là vấn đề cưới hỏi được sử dụng nhiều hơn về cả gia cầm lẫn gia súc. Vì tục lệ cưới hỏi ở đây còn nhiêu khê và rườm rà mang tính phức tạp gồm nhiều công đoạn. Không phải mẫu hệ mà đi ở rể lần này vẫn giữ nghi lễ cổ hủ trong đám cưới khi rước dâu cô dâu phải đội mũ chùm đầu, còn có cả dàn nhạc đi theo rất rầm rộ và hoành tràng. Cô dâu quần áo thêu thùa diêm dúa. Nét hoa văn nổi lên trông rất lộng lẫy, quả là một sơn nữ hiện lên giữa rừng xanh- giữ nên nét truyền thống trang phục của phụ nữ Dao khi đi dự đám cưới, đi lễ hội rất phong phú đa dạng với những đường nét… Mầu sắc rực rỡ đặc biệt là Dao đỏ, Dao cóc mùn, Dao tiền, Dao quần chẹt trên đầu có đội khăn trắng nhờ những đường nét hoa văn và cách ăn mặc của phụ nữ không những để chính họ mà các bạn cũng có thể phân biệt các nhóm Dao khác nhau.

Cưới hỏi của người M’Nông mang tính tự túc cao- lành mạnh và tiết kiệm, Đố sính lễ tự sản xuất, ăn cưới chỉ trong gia đình họ hàng, làng bản. Sau khi cưới mang lại niềm hạnh phúc cao, đáng trân trọng, xưa và nay đều có tiến bộ.

- Về người Dao trước sau phong tục cưới vẫn rườm rà, còn nặng về hình thức. Ví dụ như huy động cả một “dàn nhạc” để phục vụ ngày tân hôn gây tốn kém đáng kể. Vấn đề ăn uống, trang trí khá phổ biến. Cô dâu thì đội mũ chùm đầu quá lạc hậu với thế kỉ XXI.

Vần Thơ kết:

“Cưới đời sống mới thắm duyên

Tiến hành hôn lễ ta lên hội trường”.

 

 


 

 

 

8. Phong tục cưới đặc sắc của người Dao Tuyển


Nhóm Dao Tuyển (hay còn gọi là Dao áo dài, Dao chàm) là một trong nhiều nhóm của cộng đồng dân tộc Dao có ở Lào Cai. Người Dao Tuyển sống chan hòa cùng các nhóm Dao và các dân tộc anh em khác, tuy nhiên trong đời sống văn hóa, họ có sắc phục, tiếng nói, phong tục, mỹ tục… khác với các dân tộc, các nhóm Dao và có nhiều nét văn hoá đặc sắc. Bài viết này xin được giới thiệu nét đẹp trong phong tục cưới của người Dao Tuyển.

Cũng như nhiều dân tộc anh em khác ở Lào Cai, người Dao Tuyển trong hôn nhân trai gái được tự do tìm hiểu và thực hiện các quy định chung của pháp luật: như hôn nhân một vợ một chồng, người trong họ chưa quá năm đời không được lấy nhau… Và nét đẹp của việc cưới- một nghi lễ không chỉ in đậm dấu ấn đời người mà còn ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống gia đình và cộng đồng.

Việc cưới của người Dao Tuyển được tiến hành qua các nghi lễ và các bước: đôi trai gái sau khi tìm hiểu đã ưng thuận và mong muốn đi đến hôn nhân sẽ báo cho bố mẹ hai bên cùng biết. Bố mẹ đôi bên nếu vừa ý con dâu, con rể tương lai và gia cảnh của hai gia đình…thì sẽ tiến hành nghi lễ thứ nhất gọi là ăn pầu. Nhà trai sang thăm và gửi lại nhà gái hai đồng bạc trắng nhỏ để “Làm tin”. Sau một thời gian “thử thách” tình cảm của đôi trẻ và hai gia đình vẫn tốt đẹp sẽ tiến hành nghi thức tiếp theo (còn nếu không thành, nhà gái sẽ giử trả lại hai đồng bạc trắng). Đây là nghi thức rất quan trọng của việc hôn nhân gọi là: lo nỏi ăn ăn nỏi. ở tục lệ này, ngoài các lễ vật: trầu cau, rượu thịt tùy tâm; nhà trai còn phải mang đến nhà gái một thứ lễ có tính tín ngưỡng là gói muối bọc giấy đỏ buộc chỉ màu và kẹp theo hai đồng tiền kẽm (loại tiền cũ bằng đồng, hoặc kẽm có lỗ vuông ở giữa). Sau lễ này, hai gia đình sẽ chính thức nhận nhau làm thông gia và bàn bạc thống nhất về ngày tổ chức đón dâu. Việc này được ghi thành văn bản trên giấy hồng điều, mỗi gia đình giữ một bản đem dán vào nơi trang trọng nhất trong nhà, thể hiện ý thức tôn trọng, và ngày hôm đó dù ở gần hay xa, họ nhà trai đều ngủ lại nhà gái một đêm để trò chuyện, tỏ rõ tình cảm thân thiện. sau nghi thức này là việc hết sức quan trọng của họ nhà trai đó là việc chọn người làm ông mối trong lễ đón dâu.

Người Dao Tuyển rất coi trọng vai trò của ông mối không chỉ có ý nghĩa trong lễ cưới mà còn mang dấu ấn trong cuộc sống hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ về sau. Do dó ông mối được người Dao Tuyển gọi là Ay Tả, có nghĩa là Ông ngoại. Ông mối phải là người có nhiều hiểu biết, có tài tổ chức và đối đáp giỏi, có gia đình hạnh phúc vẹn toàn, sống mẫu mực và có uy tín trong cộng đồng. Ông mối được đôi vợ chông trẻ coi trọng và phải lễ tết hàng năm đồng thời thường xuyên đi lại viếng thăm giúp đỡ công việc khi cần thiết. Ngoài ông mối, nhà trai còn phải chọn thêm một số người trong đoàn đón dâu như: Người đưa lễ (lễ bộ), người đại diện anh em và vài ba người phù rể, đặc biệt là các thành phần trong trong đoàn đón dâu phải là người biết hát những làn điệu dân ca của dân tộc mình và ứng xử đối đáp giỏi. Đối với nhà gái phải chuẩn bị đoàn đưa dâu, tiếp đón họ nhà trai và phải mời người làm lễ cúng gia tiên. Riêng đoàn đón dâu phải có năm người: Hai phù dâu, hai đón rể, và một “bà đường”. Tất cả các thành phần này đều hát hay và ứng tác nhanh. Trong phong tục cưới của người Dao Tuyển có thể nói việc ứng táp đối đáp là thể hiện rõ nét nhất, sâu sắc nhất về bản sắc dân tộc mình. Người Dao Tuyển không sử dụng nhiều dụng cụ như Dao Đỏ, Dao Họ…. nhưng cách hát và cách đối đáp cho người Dao Tuyển rất da dạng phong phú phần lời và đặc biệt rất chặt về niêm luật, thường ở thể “song thất” (hai câu, bảy từ). cứ mỗi vấn đề định diễn đạt họ đều chuyên về vấn đề này để người hát ứng tác theo dai điệu, tiết tấu cố định. Lễ đón dâu gọi là “ay con” lễ này được thực hiện tuần tự qua các bước: Đoàn nhà trai do ông mối dẫn đầu, khi đến đầu bản, nhà gái sẽ đặt một cái cổng tượng trưng giọ là “ải thôn”. Đến đây nhà trai sẽ được mời dừng chân uống nước. Nhà gái sẽ cử người nói những câu đại lọai như: “Đoàn này là đoàn gì, đi đâu?…” Họ nhà trai phải cử người đối đáp bằng lời hát theo thể “song thất” như đã nói ở trên. Phải cho đến khi đối đáp hợp tình, thuận lý, nhà gái mới cho đi qua “ải thôn” để vào cổng nhà. Lễ này còn có nghĩa là lễ “chào làng”.

Vào đến cổng, đoàn nhà trai vẫn chưa được mời vào nhà ngay mà sẽ có một “hàng rào” là các cô gái người cùng thôn hoặc bạn bè của cô dâu sẽ chặn lối để ra vê hát đối đáp. Đây là lúc các phù rể tìm câu đối đáp sao cho thật hay để các cô gái hài lòng sẽ mở cửa “vòng vây” cho đoàn được vào nhà. Đoàn nhà trai vào sẽ tiến hành đại lễ, nhà trai sẽ dâng các lễ vật cho họ nhà gái. Người Dao Tuyển không có tục thách cưới nên gọi là đại lễ nhưng chỉ là những sản vật có tính chất tượng trưng trong đời sống tín ngưỡng như muối ăn, trầu cau, chè… được bó thành 12 gói nhỏ trong trong lá dong rừng và thắt bằng dây lạt nhuộm màu rất đẹp. Khi nhận lễ nhà trai sẽ cử người hỏi (bằng hình thức hát) xuât xứ của các thứ lễ. Họ nhà trai sẽ nói những lời hay, ý nghĩa đẹp của các lễ vật. nhà gái bằng lòng sẽ cử người hát cám ơn và nhận lễ.

Bước tiếp theo là lễ kết duyên. Đây là một nghi thức hết sức thiêng liêng đối với đôi vợ chồng trẻ. Người ta sẽ hát những bài hát răn dạy đôi vợ chồng phải biết kính trọng cha mẹ, ăn ở với nhau phải đạo vợ chồng ….Ay Tả sẽ làm lễ hợp duyên cho đôi vợ chồng. Từ giờ phút đó họ chính thức là vọ chồng; hứa với tổ tiên, cha mẹ phải sống chung thủy với nhau đến trọn đời. Mọi người sẽ hát mừng đôi vợ chồng mới và làm lễ “bái đường” và lễ “phong diện” kết thúc hôn lễ ở nhà gái. Ở lễ này người ta sẽ hát “tương kiến” đối đáp với nhau: Nhà trai thì sẽ hát những bài với nội dung cám ơn họ nhà gái đã có công sinh thành, nuôi dạy con cái, để bây giờ họ có dâu hiền con ngoan… Họ nhà gái cũng hát đáp lại, cám ơn  họ đã cho họ rể thảo để có thêm con cậy nhờ … Đến đây lễ cưới được kết thúc. Các bạn gái sẽ hát tiễn cô dâu ra ngõ các phù rể hát cám ơn đáp lễ. đoàn nhà trai được đón con dâu về nhà, họ nhà gái cử đoàn đưa con dâu về nhà chồng và tiến hành một số nghi lễ ở nhà trai. Trong lễ cưới của người Dao Tuyển mọi nghi thức vui vẻ mang đậm văn hóa dân tộc đều được thực hiện ở nhà gái, còn ở nhà trai  chỉ có một vài nghi thức tế lễ với tổ tiên và bạn bè họ hàng đến chúc mừng.

Chính những nghi lễ mang đậm dấu ấn văn hóa và tín ngưỡng trong việc cưới hỏi của người Dao Tuyển đã có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống vợ chồng. người Dao Tuyển rất ít khi có chuyện vợ chồng bỏ nhau, mà hộ sống rất chung thủy với nền tảng gia đình bền chặt, đó cũng là những nét đẹp trong đời sống văn hóa xã hội hôm nay mà chúng ta cần gìn giữ phát huy và trân trọng.


Mùa cưới, nói về lễ cưới các dân tộc thiểu số


Đối với nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong hệ thống lễ nghi vòng đời người, lễ cưới là lễ hội quan trọng nhất. Nếu lễ cưới của người Kinh thường diễn ra vào mùa đông thì lễ cưới của các dân tộc thiểu số được chọn vào lúc thu hoạch xong mùa múa rẫy. Mùa ấy cũng đồng thời diễn ra nhiều lễ hội khác như lễ mừng mùa, lễ chúc phúc, lễ tạ ơn thần linh... cho nên người ta gọi là mùa “ăn năm uống tháng”.
 
Lễ cưới tuy diễn ra trong khuôn khổ hai gia đình nhưng có sự đóng góp to lớn của cả cộng đồng. Lễ cưới các dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều giá trị văn hoá truyền thống nổi bật, nhất là nghi lễ, tập tục hay, lạ, các hình thức sinh hoạt văn nghệ, vui chơi và đặc biệt là trang phục, trang sức của cô dâu trong lễ cưới.


alt
 

Một tập tục khá phổ biến của nhiều tộc người miền núi là tục trùm chăn trong lễ cưới. Người ta chọn tấm thổ cẩm có nhiều hoa văn đẹp, mới dệt, trùm lên đầu cô dâu chú rể để chúc phúc, như lễ Pà Dùm của người Cơtu. Lễ trùm chăn là nghi thức thiêng liêng, đánh dấu sự bắt đầu cuộc sống lứa đôi. Đôi trai gái cùng uống ché rượu cưới, ăn miếng bánh lá, bôi huyết con vật hiến tế lên trán... như là lời thề hẹn thuỷ chung trước sự chứng kiến của thần linh và dân làng. Người M'nông trùm chăn để thử tài xử trí và sự nhanh nhạy của đôi trai gái. Khi tấm chăn vừa phủ lên đầu cô dâu chú rể, theo quan niệm của đồng bào ai là người nhanh tay dỡ tấm chăn ra trước thì người ấy có vai trò định đoạt cuộc sống gia đình, hạnh phúc sau này.
 
Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, dân tộc Dao đỏ còn giữ nhiều tập tục đẹp trong lễ cưới, nhất là trang phục cho cô dâu. Lễ đưa dâu về nhà chồng thực sự là một cuộc “diễu hành” biểu dương cái đẹp nghệ thuật và trang phục. Nét độc đáo nhất là cô dâu - nhân vật chính của buổi lễ - trên đường về nhà chồng luôn giấu mặt trong tấm thổ cẩm lớn màu đỏ chói. Dẫn đầu đoàn đưa dâu là các nghệ nhân thổi kèn, đánh trống, bên cạnh là cô gái trẻ cầm vạt váy áo cô dâu dắt đi; phía sau có người che dù và đoàn người đi theo cổ vũ, đưa tiễn cô dâu trong không khí rộn ràng, vui nhộn. Về đến nhà chồng, làm lễ xong cô dâu mới được phép gỡ tấm vải che mặt ra để mọi người ngắm nhìn gương mặt hạnh phúc của cô trong ngày cưới, nên duyên vợ chồng.

Từ xa xưa, con trai, con gái Mông chỉ nghe theo tiếng gọi của trái tim, người Mông không lấy vợ lấy chồng theo kiểu “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”. Con gái Mông đã yêu thì mãnh liệt vô cùng, nếu thích ai thì bỏ nhà bỏ cửa đi theo, mà không thích thì trâu béo, bạc nén cũng chẳng cần. Tình yêu khiến họ vượt trăm sông ngàn suối để đến với nhau. Tình yêu thành lời hát, tiếng khèn tha thiết ở những phiên chợ tình tìm bạn, trên các sườn non vách núi. Các chàng trai dùng tiếng khèn điệu hát thay cho lời tỏ tình. Người Mông có hình thức “kéo vợ” (mà ta hay gọi là cướp vợ), không giống với bất kỳ dân tộc nào. Cho dù cô gái ưng thuận, nhưng khi chàng trai “bắt”, cô vẫn cố tình giằng co để chứng tỏ danh giá của mình. Cái lý của người Mông là “để mai này sống với nhau có điều gì khúc mắc, chàng trai không được nói là “cô tự theo tôi về...”; và cô gái cũng có cớ để dỗi rằng “do anh kéo tôi về đấy chứ!”.
 
Trang phục, trang sức lễ cưới cũng là nét đẹp nổi bật của văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số. Hầu như dân tộc nào cũng có những bộ trang phục đẹp nhất và trang sức quý giá nhất để làm đẹp cho cô dâu trong ngày cưới. Nhìn vào váy áo, trang sức người ta cũng biết được ít nhiều về đời sống kinh tế gia đình và sự giỏi giang của chính cô dâu. Bởi vì một cô gái siêng năng, biết dệt thổ cẩm, thêu thùa hoa văn, luôn tay kéo bông... thì đương nhiên cũng phải biết tạo ra cho mình bộ trang phục truyền thống thật đẹp. Đó cũng là một tiêu chuẩn mà các chàng trai làng chọn vợ. Cô dâu không chỉ biết tạo ra váy áo đẹp cho mình mà còn làm nhiều sản phẩm khác như khăn piêu, chăn nệm bông lau, thắt lưng, tấm choàng, tấm địu con... để mang tặng bà con nhà chồng và làm tài sản ra riêng. Đối với các dân tộc Tây Bắc, đồ dẫn cưới không thể thiếu là các loại trang sức bằng bạc như vòng cổ, vòng tay, khuyên tai có giá trị và được ưa thích. Còn đối với các dân tộc ở Trường Sơn - Tây Nguyên, vòng đồng và các loại trang sức bằng cườm mã não là hiện vật không thể thiếu trong nghi lễ hôn nhân. Trong lễ hội nói chung, trong lễ cưới nói riêng, trên cổ các cô gái luôn đeo đầy những xâu cườm mã não, biểu thị sự giàu có và sang trọng.

Lễ cưới các dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều giá trị văn hoá truyền thống rất cần được nâng niu, gìn giữ. Và đáng mừng là thời gian qua, nhiều địa phương trong nước đã sưu tầm, nghiên cứu và ghi hình về lễ cưới, các lễ hội dân gian cổ truyền, góp phần bảo tồn, phát huy vốn văn hoá phi vật thể đặc sắc của các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt.



Một số phong tục hay của các dân tộc thiểu số Việt Nam



 

 

 
 
 
Phong tục làm cho sắc thái văn hoá trở nên đa dạng, phong tục giúp cho ta phân biệt được cộng đồng này, dân tộc này với cộng đồng kia, dân tộc kia. Sống đúng với phong tục, mới là sống với truyền thống. Một khi xa lạ với những phong tục của cộng đồng, thì sẽ không được cộng đồng chấp nhận, sẽ bị xem là trái với văn hoá truyền thống của cộng đồng.
 
 
 
 

 

 

Phong tục của các dân tộc thiểu số Việt Nam là cả một đề tài vô tận. Cả 54 dân tộc có biết bao nhiêu là hiện tượng, sự kiện văn hoá rất đáng quan tâm. Những vẻ đẹp trong những bộ y phục, trong đồ uống, thức ăn, những cách thức thờ cúng, cách tổ chức ngày sinh nhật, những nề nếp độc đáo trong các cuộc tang ma, cưới hỏi... là những hiện tượng mang đậm ý nghĩa văn hoá truyền thống. Vì thế mà có người đã cho rằng, muồn hiểu biết về văn hoá truyền thống của các cộng đồng phải tìm hiểu qua các phong tục.

1. Sự tích rượu cần (nhiều dân tộc)

Các dân tộc thiểu số, hầu như nơi nào cũng uống rượu cần. Hiện nay, chúng ta chưa sưu tầm được hết sự tích rượu cần của các dân tộc, chỉ mới biết người Mường, người Thái giải thích lý do ra đời của rượu cần như sau:

Một ông cụ có hai người con dâu. Cụ muốn thử xem ai là người thông minh, đức hạnh. Cụ bảo:

- Bố đi ăn uống đã nhiều, nhưng chưa được ăn con vật gì mà thịt lại nằm trong xương, cũng chưa được uống loại nước gì chảy ngược cho ngọt ngào, ý vị. Các con cố tìm cho bố. Được ăn uống những thứ đó, bố mới khoẻ ra được.

Cô dâu cả nghĩ mãi, không hiểu là thức ăn thức uống gì. Cô dâu thứ hai cũng bí, hỏi chỗ này chỗ khác cũng không ai biết thức ăn ấy ra sao. Chị buồn rầu ra suối ngồi nghĩ. Bỗng chị nhìn thấy con ốc bên bờ suối. Thôi phải rồi! Con ốc, ruột trong mềm, vỏ ngoài cứng, thế chẳng phải thịt nằm trong xương hay sao? Bên bờ suối, lại có ai đã cắm một cái vòi chuyền cho nước chảy ngược lên máng. Muốn nước chảy ngược cũng phải làm như vậy. Chị liền bắt một mớ ốc về nấu canh, múc một bầu nước, vót cái cần cắm vào bầu. Cứ để nước lã như thế thì sẽ chẳng có mùi vị gì, chị bỏ vào bầu vài nắm lá thuốc trong rừng. Đưa về nhà thì ông cụ đang đi vắng. Chị dấu kín các thức đã chuẩn bị, chờ bố về đưa nộp.

Người dâu cả đang nghĩ chưa ra cách, thấy em thu dấu thì bực, liền lén bỏ vào bình một nắm bã trấu và tấm vụn. Không ngờ như thế lại làm cho bình nước thêm chất - Lá, trấu, tấm quện lại, lên men, hoá thành một thứ rượu ngọt. Ông bố ăn canh ốc rối cầm cần hút. Đúng là nước thân nước thương chảy ngược và canh thịt nằm trong xương. Ông cụ khen nức khen nở, giao cả cơ nghiệp cho cô em. Và lịch sử xa xôi của bình rượu cần có từ đó.

2 . Trao vòng cầu hôn (Dân tộc Ê Đê)

Trai gái Ê Đê đã yêu nhau, họ báo cho gia đình biết để sắp xếp lễ đính hôn. Gia đình bên gái nhờ ông đăm đai (ông cậu) sang nhà trai đặt vấn đề xin cưới, hẹn ngày gặp và chuẩn bị trao vòng (trôk kôông). Đến ngày hẹn, họ hàng nhà gái đến nhà trai làm lễ. Hai già làng có uy tín đại diện hai bên bàn bạc. Mỗi bên đại diện đặt trên chiếu một cái vòng bạc. Khi hoàn toàn đồng ý, họ cầm vòng lên trao cho đôi nam nữ. Chàng trai và cô gái yêu nhau mỗi người đeo một cái vòng ấy. Và sau là đến việc tổ chức lễ cưới.

Trường hợp chàng trai bội ước, không làm lễ cưới, thì anh ta phải trả cho cô gái một khoản phạt bằng hiện vật, và làm cho cô gái một lễ hiến sinh (một con lợn).

3 . Chiếc khăn piêu (Phụ nữ Thái)

Khăn đội đầu của phụ nữ Thái gọi là khăn piêu, có thể xem là một đặc trưng văn hoá. Nhìn khăn đội đầu, người ta có thể phân biệt được người đó thuộc dân tộc nào, thậm chí có thể phân biệt được các ngành khác nhau trong cùng một dân tộc.

Khăn piêu của phụ nữ Thái đen dệt bằng sợi bông nhuộm màu chàm tím sẫm, có độ dài chừng một sải tay. Mặt khăn piêu gọi là Nả piêu, được thêu bằng những đường chỉ ngũ sắc, tạo ra những đường dây hoa văn, gọi là dây Sài peng (dây tình). Các sợi dây tình này, đan xen vào nhau, tạo thành các hình vuông, hình ngôi sao xéo tám cánh, đối nhau từng đôi một. Hai đầu khăn piêu là vải ngũ sắc, các góc tết thành sừng, gọi là cút piêu. Cút piêu là những hình tròn như đồng xu quấn chỉ dày, đậm. Khi đã tìm hiểu nhau rồi, đi đến đính ước, thì khăn piêu trở thành vật tin. Piêu là quà biếu khi về nhà chồng, là sợi dây tình. Và cũng có thể là vật dâng cúng trong ngày lễ.

4. Mừng ngày sinh nhật
(Dân tộc Dao)

Một số dân tộc vùng núi xa xôi vẫn có tục tổ chức ngày sinh nhật để mừng... chủ yếu là mừng người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên). Chẳng hạn như người Dao. Tiếng Dao gọi là Sèng nhật. Người ta trước hết mừng sinh nhật ông bà, cha mẹ hoặc người cao tuổi nhất trong nhà, chứ không mừng tràn lan cho tất cả mọi người. Năm đầu tiên, mời đông khách nhất, gồm họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng. Trước đó, gia đình chuẩn bị các đồ ăn thức uống. Phải dọn một mâm lên bàn thờ, mời thầy cúng khấn báo với tổ tiên là ngày này mừng sinh nhật ai, mời tổ tiên cùng về ăn cỗ. Khách đến dự lần lượt đến chào người được mừng sinh nhật, tặng quà và chúc những lời tốt đẹp. Những năm tiếp theo, nếu không có điều kiện thì không mời khách, nhưng vẫn làm cỗ trong gia đình để các cụ được vui.

5. Bát canh rêu đá (Dân tộc Thái)

Trong các ngày lễ lạt, người Thái cũng dùng các món ăn: thịt, cá, nộm và canh xương hầm măng, hầm đu đủ, nhưng giá trị nhất phải là bát canh rêu đá, tiếng Thái gọi là Kênh tau.

Người ta cho rằng thơm và ngon nhất là rêu đá ở Mường Lò (Văn Chấn) lại cho rằng không nơi nào có rêu đá ngon bằng ở suối núi (Nậm Thia), vì nơi đây có câu chuyện tình đau thương và cảm động. Truyền thuyết kể rằng có đôi trai gái yêu nhau, song bị bố mẹ ngăn cản. Nàng khóc, nước mắt chảy xuống ướt chín quả đồi, ướt mười ngọn núi, thành một dòng nước chảy xuyên rừng. Chàng trai nhớ thương bạn, đã lao đầu xuống dòng nước ấy. Thân thể chàng bị tan ra thành nhiều mảnh đá. Tóc xanh của người con gái bám vào những mảnh đá ấy, biến thành rêu xanh. Rêu đá suối Thia là kết quả của thiên tình sử bi thương. Ăn canh rêu đá ấy thì sẽ đậm đà tình thương nỗi nhớ.





Phong tục cưới hỏi của người Chăm
Phong tục cưới hỏi của người Hoa
Phong tục cưới hỏi của người Thái
Phong tục cưới hỏi của người Thái trắng Điện Biên
Phong tục cưới cổ truyền của người Việt
Phong tục tập quán ba miền Bắc Trung Nam trong cưới xin


(st)


 


• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
1 Trả lời 19 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 9 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 6 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 6 click
avatar
annick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 9 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
1 Trả lời 13 click