Tác dụng chữa bệnh của cây khổ sâm

Khổ sâm cho lá có tên khoa học là Cronton tonkinensis Gagnep., Họ Thầu dầu – Euphorbiaceae hay dân gian còn gọi cây khổ sâm cho lá là Khổ sâm Bắc bộ, cây cù đèn, cây co chạy đón (dân tộc Thái).


Đặc điểm thực vật, phân bố của khổ sâm cho lá: Cây khổ sâm nhỏ cao 0,7 – 1,0m, lá mọc cách hoặc hơi so le, cả hai mặt lá đều có nhiều lông hình khiên óng ánh, khi phơi khô mặt dưới lá có màu trắng bạc, mặt trên có màu nâu đen. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hay đầu cành.

Cách trồng khổ sâm cho lá: Trồng cây khổ sâm bằng cành hoặc bằng hạt vào mùa xuân.

Bộ phận dùng, chế biến của khổ sâm cho lá: Dùng lá khổ sâm, dạng tươi hoặc phơi khô. Thu hái vào lúc cây sắp ra hoa.

Công dụng và chủ trị của khổ sâm cho lá: cây khổ sâm trị ung nhọt, kiết lỵ, viêm loét dạ dày hành tá tràng, chốc đầu.

Liều dùng khổ sâm cho lá:

Mỗi lần uống 12 – 20g dưới dạng thuốc sắc.

Nếu bị chốc đầu thì dùng nước sắc để rửa hoặc giã lá tươi để đắp.

Chú ý: Cơ thể bị suy nhược, táo bón không dùng được, dùng liều cao gây buồn nôn, nhức đầu, khi ngừng thuốc sẽ tự hết các triệu chứng trên.

Đơn thuốc có khổ sâm:

Chữa lỵ, đau bụng đi ngoài: Lá Khổ sâm, lá Phèn đen mỗi thứ một nắm, sắc uống. Hoặc lá Khổ sâm, rau Sam, cỏ Sữa. Nhọ nồi, lá Mơ lông, mỗi vị 10 g sắc uống ngày 1 thang.

Chữa đau bụng không rõ nguyên nhân: Hái mấy lá Khổ sâm, nhai với mấy hạt muối; nếu có nôn hay sôi bụng thì nhai với một miếng gừng sống.

Chữa đau bụng lâm râm, hay sau khi ăn đau bụng, khó tiêu: Lá Khổ sâm, dây Ngấy hương, đều phơi khô, mỗi thứ một nắm (30-40g), thêm 3 lát gừng, sắc uống. Hoặc thường dùng sắc 2 thứ lá trên uống thay trà.

Chữa khắp mình nổi mẩn ngứa, muốn gãi luôn: Dùng lá Khổ sâm, Kinh giới, lá Đắng cay, lá Trầu không, nấu nước xông và tắm rửa.
Chữa vẩy nến: Khổ sâm 15g, Huyền sâm 15g, Kim ngân 15g, Sinh địa 15g, quả Ké 10g, tán bột làm thành viên, ngày uống 20-25g.


Tên Khác:


 

 

 

Khổ Cốt (Bản Thảo Cương Mục), Bạch Hành, Bạt Ma, Cầm Hành, Dã Hòe, Địa Cốt, Địa Hòe, Đồ Hòe, Hổ Ma, Khổ Quyển Biển Phủ, Khổ Tân, Khổ Thức, Kiêu Hòe, Lăng Lang, Lộc Bạch, Lục Bạch, Thỏ Hòe, Thủy Hòe (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển), Xuyên sâm (Quán Châu Dân Gian Phương Dược Tập), Phượng tinh trảo (Quảng Tây Trung Đơn Y Dược Thực), Ngưu sâm (Hồ Nam Dược Vật Chí), Địa sâm (Tân Hoa Bản Thảo Cương Yếu).Khổ Cốt (Bản Thảo Cương Mục), Bạch Hành, Bạt Ma, Cầm Hành, Dã Hòe, Địa Cốt, Địa Hòe, Đồ Hòe, Hổ Ma, Khổ Quyển Biển Phủ, Khổ Tân, Khổ Thức, Kiêu Hòe, Lăng Lang, Lộc Bạch, Lục Bạch, Thỏ Hòe, Thủy Hòe (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển), Xuyên sâm (Quán Châu Dân Gian Phương Dược Tập), Phượng tinh trảo (Quảng Tây Trung Đơn Y Dược Thực), Ngưu sâm (Hồ Nam Dược Vật Chí), Địa sâm (Tân Hoa Bản Thảo Cương Yếu), khổ sâm, kho sam, khosam

Tác Dụng 

 

 

 

+ Trục thủy, trừ ung thủng, bổ trung, minh mục, chỉ lệ (Bản Kinh).

 

 

 

+ Dưỡng Can Đởm khí, an ngũ tạng, định chí, ích tinh, lợi cửu khiếu, trừ  phục nhiệt trường tích, chỉ khát, tỉnh rượu (Danh Y Biệt Lục).

 

 

 

+ Thanh nhiệt, táo thấp, sát trùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

 

 

 

+Trừ thấp nhiệt, khứ phong, chỉ dưỡng (Trung Dược Học).

 

 

 

+Thanh hỏa, giải độc, sát trùng, khử thấp (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

Chủ Trị: Trị lỵ ra máu, ghẻ lở, hắc lào, nhọt độc (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Liều Dùng: 6 - 30g.

 

 

 

Kiêng Kỵ:

 

 

 

+ Tỳ vị hư hàn: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

 

 

 

+ Huyền sâm làm sứ cho nó, kỵ Bối mẫu, Thỏ ty tử; Phản Lê lô (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

 

 

 

+ Uống lâu ngày sẽ làm tổn thường Thận khí, tạng Can (Bản Thảo Kinh Sơ).

 

 

 

+ Thận hư mà không sốt cao: không nên dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

 

 

 

+Người Can Thận hư yếu mà không có chứng nóng: không nên dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

 

 

 

+Tỳ Vị hư hàn: không dùng (Trung Dược Học).

 

 

 

+Thận hư  mà không có thấp nhiệt: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

Đơn Thuốc Kinh Nghiệm:

 

 

 

+ Trị Tâm và Phế tích nhiệt, Thận có phong độc tấn công làm cho ngoài da, khủy tay bị ngứa, lở loét, chảy nước vàng: Khổ sâm 32 lạng, Kinh giới (bỏ cành) 16 lạng. Tán bột. Trộn với nước hồ làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 30 viên với nước trà hoặc nước sắc Kinh giới, sau bữa ăn (Khổ Sâm Hoàn – Hòa Tễ Cục phương).

 

 

 

+ Trị mặt ngứa như kim đâm: Khổ sâm 640g, Xích thược, Đông qua tử đều 160g, Huyền sâm 80g. Tán bột. Mỗi lần dùng 4g xoa vào mặt (Phổ Tế phương).

 

 

 

+ Trị bạch điến phong: Khổ sâm 2,8kg, Lộ phòng phong [ tổ ong] 150g, Thích vị bì 1 cái. Thái thuốc ra thành phiến, nấu với 3 đấu nước còn 1 đấu, bỏ bă, chỉ lấy nước cốt. Cho thêm 5 cân rượu vào, 3 đấu nếp. Nấu thành rượu, mỗi lần uống 1 – 2 ly nhỏ, trước bữa ăn, uống ấm (Bạch Điến Phong Tửu – Thế Y Đắc Hiệu phương).

 

 

 

+ Trị mộng tinh, di tinh, hoạt tinh, đới hạ có màu đỏ, đục: Khổ sâm + Mẫu lệ phấn. Tán bột. Lấy 1 dạ dày heo đực, cho 3 chén nước vào hầm thật nhừ, gĩa nát, trộn với thuốc bột làm viên như hạt bắp, uống với rượu ấm  (Trư Đỗ Hoàn  -  Lưu Tùng Thạch Phương).

 

 

 

+ Trị âm đạo lở ngứa: Khổ sâm, Phòng phong, Lộ phong phòng, Chích thảo. Lượng bằng nhau, sắc lấy nước rửa (Tẩy Độc Thang – Chứng Trị Chuẩn Thằng).

 

 

 

+ Trị lỵ ra máu không cầm: Khổ sâm, sao với Tiêu, tán nhuyễn. Tẩm với nước làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. mỗi lần uống 15 viên với nước cơm (Nhân Tồn Đường Kinh Nghiệm phương).

 

 

 

+ Trị dạ dầy đau: Lá khổ sâm 12g, Lá khôi 50g, Lá bồ công anh 20g. Nước 600ml. Sắc đặc còn chừng 200ml, chia làm 2-3 lần uống trong ngày. Uống liên tục 10 ngày, nghỉ 3 ngày. Rồi lại uống tiếp cho đến khi khỏi (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị khắp mình nổi mẩn ngứa: lá Khổ sâm + lá Trầu không + lá Đắng cay nấu lấy nước xông và tắm rửa (Trồng Hái Và Dùng Cây Thuốc).

 

 

 

+ Trị bụng đau không rõ nguyên nhân: Nhai mấy lá Khổ sâm tươi với muối (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị lỵ cấp tính, tiêu chảy:  Lá Khổ sâm + lá Phèn Đen, mỗi thứ 1 nắm (20g), sắc uống (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị lỵ cấp tính, tiêu chảy: Khổ sâm, Rau sam, Cỏ sữa, Cỏ nhọ nồi, Lá mơ lông, mỗi vị 10g, sắc uống (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị lỵ cấp tính, tiêu chảy: Khổ sâm 16g, Hương phụ 10g, Củ sả 6g, Vỏ quít 6g, Gừng 3 lát, sắc uống (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị vẩy nến: Khổ Sâm 15g, Huyền sâm 15g, Kim ngân 15g, Sinh địa 15g, Thương nhĩ tử 15g. Tán bột, làm viên. Ngày uống 20-25g (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị tử cung sa: Khổ sâm 10g, Phèn phi 25g, Bồ công anh 10g, Thổ phục linh 10g. Sắc lấy nước rửa âm đạo, cách ngày làm 1 lần (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam )

 

 

 

 Tìm hiểu thêm

 

 

 

Tên Khoa Học:

 

 

 

 

 

 

 

Croton tonikensis Gagnep. Họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae).

 

 

 

Mô Tả:

 

 

 

Cây nhỏ, cao 0,72m. Lá mọc so le nhưng gần như đối nhau, có khi mọc thành từng vòng giả 3-4 lá. Phiến dài hình mũi mác, mép nguyên, cả 2 mặt lá đều có nhiều lông tỏa tròn óng ánh. Khi phơi khô, mặt dưới lá có mầu trắng bạc, mặt trên lá có mầu đen. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, hoa lưỡng tính hoặc đơn tính. Hoa đực có 5 lá đài, 1-2 nhị, hoa cái cũng có 5 lá đài, 3 vòi nhụy. Quả gồm 3 mảnh vỏ, mầu hung đỏ, có lông trắng. Hạt hình trứng, có mỏ, màu nâu hung. Mùa hoa quả: tháng 5-8.

 

 

 

Khổ sâm là rễ khô của cây Khổ sâm. Được trồng khắp nơi ở Trung Quốc, tại Việt Nam hiện nay còn phải nhập.

 

 

 

Thu Hái, Sơ Chế: Mùa xuân, thu đào hái về, cắt bỏ đầu rễ và rễ to, rửa sạch đất, phơi khô hoặc cắt thành từng miếng dày độ 0,3 – 1cm, phơi khô là được.

 

 

 

Bộ Phận Dùng: Lá thu hái khi cây đang có hoa, phơi khô.

 

 

 

Mô Tả Dược Liệu:

 

 

 

Khổ Sâm hình trụ tròn dài, trên to, dưới nhỏ, thường chia thành trục, dài 10-33cm, đường kính 1-2cm. Bên ngoài là lớp vỏ mỏng, mầu vàng nâu, thường bị nứt cuộn ra phía ngoài, dễ bóc, chỗ bị bóc vỏ mầu vàng bóng, hơi sáng, nhìn rõ vân dọc. Khổ sâm bán trên thương trường là miếng dầy hình tròn hoặc bầu dục, dầy 0,3-1cm, phần vỏ chỗ mặt cắt ngang và phần gỗ trung tâm phân từng tầng rất rõ, phần gỗ có vòng tròn rất rõ, đa số hình thành 2-4 lớp vân vòng, vân nhỏ hình hoa cúc. Loại rễ to khá gìa, thường có kẽ nứt. Chất cứng, khó bẻ gẫy, mặt gẫy mầu trắng vàng, ở giữa nhạt hơn, không mùi, vị đắng rất lâu. Loại củ dài, vỏ nhỏ, mịn, không còn đầu rễ, không có rễ tơ là loại tốt. Miếng Khổ sâm mầu trắng vàng, nguyên vẹn là loại tốt (Dược Tài Học).

 

 

 

Bào Chế: + Dùng nước vo gạo đặc của gạo nếp ngâm 1 đêm, mùi tanh hôi nổi trên mặt nước, phải đãi lại rồi hấp 1/2 ngày, lấy ra phơi khô, thái để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

+ Cắt bỏ đầu rễ, rửa sạch, ngâm nước, vớt ra, sau khi thấm ẩm đều, cắt thành từng miếng, phơi khô là được (Dược Tài Học).

 

 

 

Bảo Quản: Dễ mốc, mọt. Cần để nơi khô ráo, kín.

 

 

 

Thành phần hóa học:

 

 

 

+Trong Khổ sâm có d-Matrine, d-Oxymatrine, d-Sophoranol, 5-Hydroxymatrine, I-Anagyrine, l-Methylcystisine, Ibaptifoline, I-Sophocarpine, Xanthohumol, Isoxanthohumol, 3, 4, 5-Trihydroxy, 7-Methoxy, 8-Isopentenylflavone, 8-Isopentenyl Kaemferol (Trung Dược Học).

 

 

 

+ d-Matrine, d-Oxy, d-Sphoranol, Matrine, 5-Hydroxymatrine, l-Anagyrine, l-Methyleycarpine, Xanthohumol (Chinese Hebral Medicine).

 

 

 

+ Rễ và lá có Luteolin-7-Glucoside (Chinese Hebral Medicine).

 

 

 

+Trong lá có các nhóm chất Flavonoid, Alcaloid và Tanin. Hàm lượng Alcaloid toàn phần là 0,310,33% (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Matrine, Oxymatrine, N-Oxysophocarpine, Sophoridine (Bạch Tiết Giáng, Trung Thảo Dược Thông Báo, 1982, 13 (4): 8).

 

 

 

+ Kushenin (W L J và cộng sự, Chem Pharm Bull 1985, 33 (8): 3231).

 

 

 

+ Kuraridinol, Kurarinol, Neokurarinol, Norkurarinol, Isokurarinone, formononetin (Kyogoku K và cộng sự, Chem Pharm Bull, 1973, 21 (12): 2733).

 

 

 

Tác Dụng Dược Lý:

 

 

 

*Tác Dụng Chống Nấm: nước sắc Khổ sâm trong thực nghiệm có tác dụng kháng 1 số nấm ngoài da (Trung Dược Học).

 

 

 

+Tác Dụng Kháng Sinh: Khổ sâm có tác dụng kháng sinh đối với trực khuẩn lỵ đồng thời có tác dụng kháng lỵ amip, làm cho đơn bào co thành kén (Trung Dược Học).

 

 

 

+Tác Dụng Đối Với Ký Sinh Trùng Sốt Rét: nước sắc của bài thuốc gồm Khổ sâm và vỏ Bưởi có tác dụng ức chế ký sinh trùng sốt rét mạnh trên động vật thí nghiệm được gây nhiễm sốt rét, nhưng  tái phát trong thời gian 10 ngày theo dõi. Trên mô hình thực nghiệm chuột nhắt nhiễm Plasmodium Berghei và gà nhiễm Plasmodium Gallinaceum, Alcaloid chiết xuất từ  Khổ sâm không thể hiện rõ tác dụng.

 

 

 

1 bài thuốc khác gồm lá Khổ sâm và vỏ Bưởi đào dưới dạng nước sắc và xi rô đã được thử nghiệm trên 59 bệnh nhân sốt rét và thấy thuốc có tác dụng hạ sốt, làm giảm mật độ ký sinh trùng ở bệnh nhân nhưng tác dụng yếu, không rõ rệt, đồng thời không có tác dụng phụ (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Tác dụng lợi niệu: Cho thỏ uống hoặc  chích dịch Khổ sâm thấy có tác dụng  lợi niệu (Trung Dược Đại Từ Điển).

 

 

 

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước  sắc Khổ sâm có tác dụng ức chế đối với Staphylococus aureus, lỵ trực khuẩn, trùng Amip (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Tác dụng kháng ung thư: Khổ sâm có tác dụng ức chế S180 nơi chuột nhắt. Lâm sàng cho thấy Khổ sâm có hiệu quả nhất định đối với ung thư ở cổ, dạ dày, gan (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Chích dịch Khổ sâm vào thỏ nhà thấy có tác dụng tê liệt trung khu thần kinh, gây nên co giật, ngưng hô hấp và tử vong (Trung Dược Học).

+Bài thuốc gồm Khổ sâm và 3 vị thuốc khác dưới dạng nước sắc để rửa âm đạo trong điều trị sa sinh dục, phối hợp với bài thuốc uống và bài thuốc đặt ở âm đạo, đạt kết quả khá tốt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

 

 

 

Tính Vị:

 

 

 

+ Vị đắng, tính hàn (Bản Kinh).

 

 

 

+ Không độc (Danh Y Biệt Lục).

 

 

 

+ Vị rất đắng, tính rất hàn (Bản Thảo Tùng Tân).

 

 

 

+ Vị đắng, tính hàn (Trung Dược Đại Từ Điển).

 

 

 

+Vị đắng, tính hàn, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

 

 

 

+Vị đắng, tính lạnh (Trung Dược Học).

 

 

 

+Vị đắng, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

Quy Kinh:

 

 

 

+ Vào Thiếu âm Thận  (Trân Châu Nang).

 

 

 

+ Vào kinh Vị, Đại trường, Can, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

 

 

 

+ Vào kinh Tâm, Phế, Thận, Đại trường (Bản Thảo Tân Biên).

 

 

 

+ Vào kinh Can, Thận, Đại trường, Tiểu trường (Trung Dược Đại Từ Điển).

 

 

 

+Vào kinh Can, Thận, Đại trường, Tiểu trường (Trung Dược Học).

 

 

 

+Vào kinh Tâm, Thận, Tỳ (Đông Dược Học Thiết Yếu).

uốc Việt Nam).

 

 

 

 Tham Khảo:

 

 

 

+ Huyền sâm làm sứ cho Khổ sâm. Khổ sâm ghét Bối mẫu, Thỏ ty tử, Lậu lô. Khổ sâm rất kỵ Lê lô, uống lẫn 2 thứ có thể gây chết” (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

 

 

 

+ Khổ sâm tuy đặt tên có chữ sâm nhưng không có tính bổ. Nha đảm tử là Khổ trân tử nhưng người ta đa số cứ lầm là hạt Khổ sâm.  Khổ sâm với Hoàng liên đều là thuốc có vị đắng, tính hàn, có tác dụng tả hỏa. Khí vị của Hoàng liên thanh, trừ Tâm hỏa là chính. Khí của Khổ sâm trọc, trừ hỏa ở Tiểu trường là chính” (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Khổ sâm và Tần bì đều là vị thuốc thanh nhiệt, táo thấp, trị kiết lỵ. Nhưng Khổ sâm khí vị đều trọc, thanh nhiệt và táo thấp mạnh hơn, lại có công dụng thông khí kết ở ngực và bụng, lợi huyết mạch, khứ phong, sát trùng. Trong điều trị thường được dùng trị bệnh ở tạng Tâm, Can, Vị, Đại trường, Bàng quang. Còn Tần bì có tác dụng Thanh nhiệt, táo thấp, yếu hơn Khổ sâm. Tần bì có tác dụng thanh Can, minh mục, tính của nó thu sáp, chỉ băng, giỏi về chỉ tả, bình suyễn, chỉ khái (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê)


Cây khổ sâm: Creotonton kinensis Gagnep, thuộc họ thầu dầu. Ta dùng lá phơi khô hoặc sao khô của cây khổ sâm. Cây nhỏ cao độ 0,7-1,0m lá mọc cách hay gần như mọc đối, có khi mọc thành vòng giả gồm 3-6 lá, lá hình mũi mác, mép nguyên dài 5-10cm, rộng 1-3cm. Cả hai mặt lá đều có nhiều lông hình khiên óng ánh (kiểu lông ở lá cây nhót) nhưng mặt dưới nhiểu hơn mặt trên. Khi phơi khô mặt lá dưới có màu trắng bạc, mặt trên có màu đen. Hoa tự mọc ở kẽ lá hay đầu cành, lưỡng tính hay đơn tính. Hoa đực có 5 lá đài, 3 vòi nhị. Quả gồm 3 mảnh vỏ màu hung hung đỏ, mọc hoang hoặc được trồng trong vườn làm cây thuốc, không độc.

Bài thuốc chữa hậu sản:


Phụ nữ sau khi sinh nở, thời kỳ cho con bú độ tuổi trước khi mãn kinh, bụng sôi, eo sèo, đầy bụng biếng ăn, trong bụng cồn cuộn dẫn lên cổ gây buồn nôn, người bệnh có cảm giác như có giun nhòng lên cổ. Khi thấy triệu chứng như trên chỉ cần hái 50g lá khổ sâm tươi hoặc 15-20g lá khổ sâm khô, thêm vào 600ml nước, đun còn 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày sau bữa ăn. Làm như vậy từ 3-7 ngày hết bệnh.

Chữa đau dạ dày:

Lá khổ sâm 15g, lá bồ công anh 25g, lá khôi 40g, lá và ngọn cây dạ cầm 25g, (cả bốn cây này không độc), tất cả băm ngắn phơi gần khô thì sao cho khô, cho vào 600ml nước sắc còn 200ml nước chia làm 3 lần uống trong ngày (uống sau bữa ăn). Uống liên tục trong 10 ngày lại nghỉ 3 ngày, cứ làm như vậy cho đến khi hết đau thì uống thêm một tuần lễ nữa (kiêng bia, rượu, gia vị cay nóng).

Ngừa đau dạ dày, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt: Lá khổ sâm tươi hoặc khô, hãm như pha trà thay cho nước uống hàng ngày, liều lượng khô 3-5g, tươi 8-10g nước này có vị đắng.


Khổ sâm cho lá (Croton tonkinensis Gagnep, họ thầu dầu Euphorbiacea). Vì trên thực tế có nhiều loại thuốc mang tên khổ sâm, mỗi loại lại dùng với mục đích khác nhau trong điều trị.

 Do đó để tránh sự nhầm lẫn, cần có sự phân biệt ngay từ đầu về nguồn gốc các vị thuốc “khổ sâm”. Khổ sâm, tức là “sâm đắng”, khổ là đắng; vì các vị thuốc này đều cho vị đắng.

 

 

(Khổ sâm cho lá. Ảnh sưu tầm)

Khổ sâm cho lá, vì vị thuốc này dùng lá (Folium Tonkinenis) để chữa bệnh. Cây khổ sâm cho lá chỉ cao từ 1 - 1,2m thuộc loại cây bụi. Lá đơn, mọc cách hay gần như mọc đối, có khi mọc thành vòng giả, gồm 3 - 6 lá. Lá khổ sâm có hình mũi mác, dài 5 - 6 cm, rộng 2 - 3 cm, mép nguyên. Mặt dưới là màu trắng bạc óng ánh, trong như lá nhót đó là các long hình khiên. Mặt trên thường xanh nhạt cũng có ít long hình khiên như mặt dưới lá. Khi lá khô đi, màu trắng bạc mặt dưới lá càng thể hiện rõ hơn, còn mặt trên lại trở nên màu nâu đen; điều đó giúp ta dễ dàng nhận dạng vị thuốc này. Cụm hoa thường được mọc ở kẽ lá hay đầu cành, lưỡng tính hay đơn tính. Hoa đực gồm 5 lá dài, 3 vòi nhị. Quả gồm 3 mảnh vỏ, màu hơi đỏ. Cây khổ sâm cho lá, thường là cây mọc hoang, đôi khi được trồng làm cảnh và được trồng ở nhiều nơi thuộc các tỉnh phía Bắc nước ta. Do đó nó còn được gọi là “khổ sâm Bắc bộ”. Người ta thu hút các là bánh tẻ vào các mùa trong năm. Phơi khô. Trước khi sử dụng, thường tiến hành sao vàng.

 

 

1. Khổ sâm cho lá chứa các thành phần hóa học gì?

Việc nghiên cứu thành phần hóa học của lá khổ sâm, còn rất khiêm tốn. Sơ bộ thấy trong lá thấy có các thành phần flavonoid, alcaloid, β – sitosterol, stigmasterol, acid benzoic, tecpenoid. Gần đây các nhà khoa học ở nước ta, đã phân lập được một số thành phần hóa học từ các hợp chất tecpenoid của lá khổ sâm như sau:

 

 

 

Ent – 7 β - hydroxyl – 15 - oxokauran – 16 – en -18 – yl acetate,

 

 

 

Ent – 1 α – acetoxy – 7 β, 14 α- dihydroxykauran – 16 – en – 15 – one

 

 

 

Ent – 18 – acetoxy-  7 β, 14 α – dihydroxykauran – 16 – en – 15 – one

Ent - 7 β, 14 α - dihydroxykauran – 16 – en – 15 – one

 

 

 

2. Tác dụng sinh học của lá khổ sâm cho lá

Khổ sâm cho lá có tác dụng trên kí sinh trùng sốt rét. Thành phần có tác dụng này là alkaloid toàn phần và chất ent - 7 β - hydroxyl - 15 - oxokauran - 16 - en -18 - yl acetate, có hoạt tính kháng sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum rõ rệt, kể cả chủng nhậy và chủng kháng cloroquin. Ngoài ra chất này còn chứa hoạt tính độc tế bào mạnh đối với các dòng tế bào ung thư người Hep - G2 (ung thư gan), RD (ung thư màng tim), FI (ung thư màng tử cung) và VR (tiền ung thư thận khỉ). Các thành phần flavonoid trong khổ sâm có tác dụng kháng khuẩn; đặc biệt là thành phần ent - 7 β - hydroxyl - 15 - oxokauran - 16 - en -18 - yl acetate có tác dụng ức chế mạnh với Bacillus sublities, Aspergillusniger, Fusarium oxysporum và nấm Candida albicans.

 

 

 

3. Khổ sâm cho lá, trị bệnh đường tiêu hóa

Theo kinh nghiệm dân gian, người ta thường dùng lá khổ sâm để trị một số bệnh đường tiêu hóa, viêm - đau dạ dày, tá tràng, đại tràng, đầy hơi, trướng bụng, ợ chua, ăn uống kém tiêu; đem sao lá vàng, sắc đặc uống, ngày 2 - 3 lần, mỗi laafn16 - 20g. Nên uống sau khi ăn, để tránh cảm giác khó chịu. Có thể uống liền vài ba tuần, nghỉ vài ngày, lại dùng tiếp cho đến khi khỏi hẳn. Cũng có thể phối hợp với các vị thuốc chữa dạ dày khác như:

Lá khổ sâm (Folium Tonkinenis) : 12g

Lá khôi (Folium Ardisiae):     50g

Lá bồ công anh (Folium Lastucae indicae): 20g

Dùng dưới dạng nước sắc. Uống 2 - 3 lần trong ngày. Uống liên tục trong 10 ngày, nghỉ 3 ngày. Lại tiếp tục liệu trình mới, cho dến khi khỏi hẳn. Nếu trường hợp khi uống đại tiện phân lỏng, cần thêm 3 lát gừng vào thang thuốc, đồng thời không ăn các thức ăn sống lạnh như: rau dền, ốc, bún… Cũng có thể phối hợp khổ sâm với dạ cẩm (Herba oldenlandiea capitellatae), để chữa bệnh đau dạ dày, cho kết quả tốt. Lá khổ sâm còn dược dùng để chữa viêm đại tràng mãn tính, sôi bụng, đầy hơi, trướng bụng, đại tiện phân sống, nát. Trong trường hợp này, có thể phối hợp với chè dây, nam mộc hương, vân mộc hương, thương truật, hậu phác. Khổ sâm cho lá còn dùng để trị bệnh kiết lỵ, có thể phối hợp với cỏ sữa lớn lá hoặc nhỏ lá, lá phèn đen hoặc vỏ cây mức hoa trắng, đều cho hiệu quả. Ngoài chữa bệnh đường tiêu hóa, khổ sâm còn là vị thuốc trị sốt rét có kết quả tốt. Có thể dùng lá khổ sâm và vỏ bưởi đào, mỗi thứ 200 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia làm hai lần uống trong ngày. Bài thuốc thể hiện tốt với thế sốt rét do ký sinh trùng Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax. Thuốc có tác dụng hạ sốt và không thấy biểu hiện độc tính.

Còn dùng chữa bệnh lở ngứa, vẩy nến: lá khổ sâm 15 g, huyền sâm 15 g, kim ngân hoa 15 g, sinh địa 15 g, thương nhĩ tử 10 g. Sắc uống. Chữa ngứa ngoài da bằng cách sắc lá khổ sâm với kinh giới, lá trầu không, lấy nước tắm rửa.

 

 

Khi sử dụng khổ sâm cho lá, cần chú ý gì?

Trước hết cần tránh nhầm lẫn với các vị thuốc có tên khổ sâm khác nhau:

 

 

Khổ sâm cho hạt

 Cây này còn có tên là sầu đâu rừng hay, sầu đâu cứt chuột (Brucea javanica (L.). họ Thanh thất Simarubaceae. Vị thuốc được sử dụng trong cây này là quả, còn gọi là Nha đảm tử (Fructus Bruceae). Vì trông giống như cứt chuột, cho nên có tên gọi “sầu đâu cứt chuột”. Trong quả sầu đâu chứa các thành phần: dầu lỏng màu trắng, tới 23%, tannin, saponin, quasin, amygdalin, kosamin. Chất kosamin có tác dụng diệt trùng, diệt giun sán với liều nhỏ, liều cao có thể gây độc. Trên lâm sàng, nha đảm tử dùng để điều trị bệnh lỵ amips dạng đang hoạt động, thể cấp tính, rất công hiệu. Ngoài ra còn dùng để trị sốt rét, ngày dùng 10 – 14 quả, có thể 20 quả, tán nhỏ làm viên hoàn cho tiện sử dụng.

 

 

Khổ sâm cho rễ

Cây này còn có tên là Dã hòe (hòe mọc hoang) hay Khổ cố (Sophora flavescent Ait, họ Đậu Fabaceae). Vị thuốc là rễ (Radix Sophorae) được phơi hay sấy khô, khi dùng rửa sạch, phơi khô, thái vát, sao vàng. Cây dã hòe chủ yếu mọc ở Trung Quốc. Hiện có nhập ở thị trường nước ta. Trong thành phần hóa học của rex hoa hòe, chủ yếu là alcoloid: matrin, oxy matrin, sophocacpin. Trên lâm sàng, Khổ sâm cho rễ được sử dụng trị đại tiện ra máu, lỵ cấp tính, đem vị thuốc tán bột mịn, hoàn với mật ong, ngày 10 viên, trị giun và các trường hợp sốt cao. Ngoài ra còn dùng thuốc lợi tiểu, thuốc trị bệnh ngoài ra, viêm âm đạo,viêm tai giữa và thuốc bổ đắng.

 

 

Tóm lại

Có nhiều vị thuốc mang tên thuốc khổ sâm, ít nhất là 3 vị. Chúng có ở 3 họ thực vật khác nhau: lá, quả, rễ. Tuy nhiên, cả 3 loài khổ sâm nói trên, đều có điểm chung, là ít nhiều có liên quan đến việc sử dụng để trị bệnh đường tiêu hóa: chữa lỵ. Ngoài ra còn để chữa sốt rét, cũng là một trong những bệnh “nan y”. Do vậy, người xưa thường sử dụng những vị thuốc, có tính chất “đắng (khổ) ”, để trị. Vì người ta quan niệm: “thuốc đắng giã tật”. song điều đáng lưu ý đến vị thuốc đề cập chính ở đây là “khổ sâm cho lá”, lại sử dụng chữa bệnh đường tiêu hóa là chủ yếu. Do vậy cần chú ý tránh nhầm lẫn khi sử dụng loại thuốc này.

Khổ sâm chữa rối loạn nhịp tim


Khổ sâm có tên khoa học là Sophora flavescens Ait. Mùa thu và mùa xuân đào lấy rễ, cắt bỏ thân rễ và rễ non, rửa sạch, phơi khô hoặc thái phiến tươi, rồi phơi khô để làm thuốc. Khổ sâm có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, táo thấp, sát khuẩn, lợi niệu. Trong y học cổ truyền khổ sâm được sử dụng để điều trị: nhiệt lỵ, tiện huyết, xích bạch đới, thấp chẩn (eczema), mụn nhọt, lở ngứa... Liều dùng: thường 5-10g/ngày dưới dạng sắc uống.

 

 Khổ sâm.

Khổ sâm được dùng chủ yếu để chống rối loạn nhịp tim. Nó làm hạ thấp nhịp tim, tăng thời gian dẫn truyền tim và làm giảm tính kích thích cơ tim. Tác dụng này không bị ảnh hưởng bởi atropin hay tác nhân beta - adrenergic. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng D-matrin một hoạt chất của khổ sâm có hoạt động chống rối loạn nhịp tim trên động vật bởi tác dụng ức chế trực tiếp trên cơ tâm nhĩ. Khổ sâm cũng có tác dụng làm tăng lượng bạch cầu và đã biểu hiện bản chất chống vi khuẩn và chống ung thư.

Người ta cũng thấy khổ sâm ức chế tổng hợp protein virut gây ra giảm sự sao chép virut.

Những dẫn xuất của matrin cũng có tác dụng chống viêm nhiễm và ức chế định thấm mao mạch bởi histamin.

Khổ sâm được dùng hiện nay chủ yếu chống rối loạn nhịp tim. Ngoài ra trên lâm sàng ôxy matrin có tác dụng trong điều trị viêm da tiếp xúc dị ứng bởi ức chế sự mất kết hạt của các tế bào mastocyt.

Y học cổ truyền Trung Quốc sử dụng khổ sâm trong chống sốt và ẩm ướt cơ thể, thuốc chống sán lãi, chữa tiếng tim đập không đều, eczema, tiêu chảy cấp, viêm tai giữa, viêm kết mạc mạn tính và cấp, nhiễm trùng roi âm đạo.

Khổ sâm chống lại tia X nên dùng trong chống bệnh máu trắng và sử dụng lợi niệu khi phù nề.

Bài 1: Bài thuốc khổ sâm long thảo chứa khổ sâm chủ trị loạn nhịp tim, thanh tâm hỏa. Khổ sâm 30g, ích mẫu 30g, chích thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Cho 600ml nước sắc còn 200ml chia uống 3 lần trong ngày.

Bài 2: Chủ trị bệnh động mạch vành và ngoại tâm thu, viêm cơ tim. Khổ sâm một phần, hồng hoa một phần, chích thảo 0,6 phần. Xay mịn làm thành viên 0,5g. Mỗi lần uống 3 viên, ngày uống 3 lần.

Chích cam thảo 2g, sinh hoàng kỳ 20g, ngọc trúc 30g, sinh tử thanh 60g (sắc trước). Khổ sâm 15g (nếu tim đập nhanh thì dùng 30g). Cho 600ml nước, sắc còn 200ml chia uống 3 lần trong ngày.

 



Tác dụng chữa bệnh của cây cam thảo đất
Tác dụng chữa bệnh của cây diếp cá
Tác dụng chữa bệnh của cây nhàu
Tác dụng chữa bệnh của cây chùm ngây
Tác dụng chữa bệnh của cây bạch quả
Tác dụng chữa bệnh của cây chè đắng


(st)

• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 17 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 6 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 4 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 6 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 4 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 9 click