Tác dụng chữa bệnh của khổ qua rừng

Khổ qua hay còn gọi là mướp đắng, có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe. Theo Đông y, mướp đắng tính hàn, vị đắng, không độc, nếu được dùng thường xuyên sẽ giúp giảm các bệnh ngoài da, làm cho da dẻ mịn màng. Theo y học hiện đại, mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư; hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa bằng tia xạ.

 



Ngoài ra, mướp đắng còn có các tác dụng dược lý sau:


- Chống các gốc tự do - nguyên nhân gây lão hóa và phát sinh các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tổn thương thần kinh, viêm đường tiết niệu, tiểu đường...

- Tăng ôxy hóa glucose, ngăn chặn sự hấp thu glucose vào tế bào. Ức chế hoạt tính các men tổng hợp glucose.

- Có tác dụng sinh học giống insulin, giúp cơ thể tăng tiết insulin, rất tốt đối với bệnh nhân tiểu đường dạng 2.

Ở dạng nước sắc, quả mướp đắng tươi có tác dụng chữa ho, mụn trứng cá(uống trong và bôi ngoài) và rôm sảy (uống trong và bôi ngoài, khi khô thì tắm).

Bạn có thể chế biến một số món ăn liên quan đến khổ qua dễ làm và dễ ăn lại tốt cho sức khỏe như: mướp đắng xào thịt bò, mướp đắng nhồi thịt, mướp đắng xào trứng...
Theo y học cổ truyền thì khổ qua rừng có vị đằng tính hàn, không độc có tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, thoái ba, trừ phiền, bài nùng, trừ đờm, cắt cơn ho trong bệnh phổi. Từ xa xưa nhân dân ta đã lấy lá non làm rau ăn, toàn thân rễ lá làm thuốc trấn ban cho phụ nữ thời kì sinh nở. Nước sắc dây khổ qua rừng có tác dụng giải độc khi trúng độc và dùng phòng trừ bệnh uốn ván cho phụ nữ sau khi sinh hoặc sẩy thai..dịch ép lá dùng chữa viêm mắt, nước sắc toàn cây có tác dụng cắt cơn ho trong bệnh phổi.
Cách sử dụng:

Thu về băm nhỏ phơi khô hoặc sao vàng hạ thổ cho một nắm to vào ấm đổ ngập nước đun sôi nhỏ lửa cạn còn một bát gạn lấy rồi cho 800ml nước vào sắc lần 2 như trên lấy một bát. Lần 3 cho 600ml nước vào sắc như trên lấy một bát, cả ba lần nước sắc được đổ trung với nhau chia ba lần uống trong ngày (sáng trưa tối) ngày một ấm.

 
Trích từ một cuộc PV báo Tuổi trẻ:

Th.S-BS Quan Vân Hùng - trưởng khoa nội 2 Viện Y dược học dân tộc TP.HCM.
Trái khổ qua có công dụng ổn định đường huyết, có thể uống lâu dài, không kỵ thuốc tây.
Nếu dùng tươi, lấy khoảng 200g-300g bỏ hết hạt, nấu chín và ăn cả nước lẫn cái.
Dùng khô: lấy 30g-60g khô, nấu uống.
Khi bị tiểu đường nên kiêng ăn đường cát, giảm tinh bột, các loại thịt. Đường huyết trung bình từ 80-110mg/cc là vừa. Đo đường huyết bằng máy điện tử không chính xác bằng các phương pháp trong phòng thí nghiệm.
Lưu ý bệnh tiểu đường rất phức tạp, nhiều biến chứng nguy hiểm và kéo dài suốt đời. Nếu bị bệnh, có thể dùng thử thuốc nam (như dứa hay vài loại thuốc nam khác) nhưng phải có bác sĩ chuyên khoa về tiểu đường theo dõi sát, định kỳ. Nếu không hiệu quả phải tăng liều hay đổi thuốc khác. Sau khi dùng thử vài loại thuốc nam mà không ổn định được đường huyết thì nên dùng thuốc tây để khỏi bị các biến chứng muộn của bệnh tiểu đường. 
Trên Tuổi Trẻ Online có 1 bài nói rất chi tiết về tác dụng khổ qua rừng xin trích lại:  Đọc sách báo tôi đều thấy viết uống nước nhiều là tốt, nhưng lại không thấy nói uống những loại nước nào (nước lọc, nước trái cây, nước ngọt, nước trà) là tốt? Uống vào những thời gian nào, tỉ lệ uống là bao nhiêu nếu trong ngày uống nhiều loại nước?...
Ở chỗ tôi ở có rất nhiều cây khổ qua rừng (mướp đắng), tôi thường lấy cả dây về (lá, dây, quả) phơi khô nấu uống hằng ngày. Xin hỏi uống vậy có tốt cho gan, dạ dày? (Tôi đi nội soi dạ dày kết quả bị viêm xung huyết hang vị nhẹ đã điều trị và hiện không thấy đau nữa). Xin cho biết tác dụng của dây khổ qua? (Hoàng Phong)
Trả lời của Phòng mạch online:
Nước giúp cho quá trình trao đổi chất và hô hấp tế bào. Chắc bạn đã từng bị tiêu chảy sẽ thấy cơ thể mệt mỏi, mắt trũng, môi khô vì mất nước. Trẻ nhỏ và người già mất nước có ; thể dẫn đến tử vong. Mỗi ngày bạn nên uống hai lít nước. Tốt nhất là uống nước trà buổi sáng, "bình minh nhất trản trà”, sáng dậy uống một ly trà tinh thần sảng khoái.
Trong ngày bạn có thể uống một ly nước trái cây, còn lại là nước lọc. Tất cả các thứ nước đó cộng lại là hai lít chứ không phải ngoài những thứ đó ra uống hai lít nước lọc. Nếu bạn bị táo bón thì sáng dậy uống 0,5 lít nước lọc. Nước sẽ làm mềm phân và chống táo bón. Nếu bạn bị nóng trong người thì trong ngày uống nước rau má, nước khổ qua. Uống nước cũng tùy tình trạng của cơ thể, hàn hoặc nhiệt mà chọn nước phù hợp.
Khổ qua còn có tên gọi là mướp đắng, mướp mủ, cẩm lệ chi, thuộc họ bầu bí. Ngoài dùng để ăn, hạt khổ qua có chứa protein, đường và một số acid, có nhiều công dụng tốt cho cơ thể.
Tác dụng của khổ qua với đời sống:
Trái khổ qua dùng để chế biến món ăn giúp giải nhiệt, trẻ nhỏ dùng nước khổ qua tắm để trị rôm sảy.
* Thành phần protein và nhiều lượng vitamin C trong khổ qua giúp nâng cao chức năng miễn dịch của cơ thể, làm tế bào miễn dịch có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư… đó chỉ là một trong rất nhiều tác dụng của khổ qua.
* Kích thích ăn uống, tiêu viêm, thoái nhiệt: khổ qua giúp kiện tỳ khai vị (kích thích chức năng tiêu hóa); alkaloid trong khổ qua có công hiệu lợi niệu hoạt huyết (lợi tiểu, máu lưu thông); tiêu viêm thoái nhiệt (chống viêm, hạ sốt); thanh tâm minh mục (mát tim sáng mắt). Bạn có thể dùng khổ qua như một thức uống bổ tỳ vị hằng ngày rất tốt.
* Do có vị đắng khá đặc trưng nên khổ qua ít khi nào được chế biến chung với các loại rau khác. Bạn có thể giảm bớt vị đắng của khổ qua bằng cách bóp muối và rửa trước khi nấu. Khổ qua còn xanh ít đắng hơn so với khổ qua đã chín vàng. Tuy vậy, nhiều người vẫn thích vị đắng nguyên thủy của khổ qua.
* Trong khổ qua có chất axit ôxalic ảnh hưởng đến việc hấp thu chất canxi có trong thức ăn, vì thế khi xào khổ qua không trụng qua nước sôi là vô tình bạn để cho axít ôxalic làm ảnh hưởng đến những thực phẩm chứa canxi như thịt, cá.
* Món gỏi khổ qua tôm thịt, khổ qua xào với trứng hoặc nhồi thịt hầm giúp giải nhiệt khi thời tiết nóng.
* Dùng nhiều khổ qua trong chế độ dinh dưỡng hằng ngày có thể giúp giảm lượng đường trong máu.
Trị bệnh với khổ qua:
* Giảm viêm tấy: Khổ qua tăng khả năng tránh nhiễm khuẩn, giảm viêm sưng nhẹ và phần bã đắp lên vết thương sẽ rất công hiệu. Chữa sốt, say nắng: nấu khổ qua bỏ ruột cùng lá khổ qua để lấy nước uống giúp chữa say nắng.
* Trà khổ qua: giúp giải nhiệt, tâm thần bất định, hồi hộp, kích thích tiêu hóa ăn ngon miệng hơn.
* Chữa sạm da: sạm da là nỗi ám ảnh của nhiều phụ nữ, nhất là những người mới sinh hoặc ra nắng nhiều. Một số loại mặt nạ thảo dược làm từ cà chua, khổ qua, trứng gà, dưa chuột... có thể hạn chế tình trạng này.
Cà chua, khổ qua trứng gà mỗi thứ một trái. Cà chua rửa sạch, bỏ hạt, thái nhỏ, nghiền nát. Khổ qua rửa sạch, bỏ hạt, giã nát. Tất cả hòa chung với lòng đỏ, lòng trắng trứng gà, trộn đều, đánh nhuyễn. Tối trước khi đi ngủ, rửa mặt sạch, lau mặt khô rồi lau nhẹ lại bằng nước hoa hồng. Sau đó bôi hỗn hợp trên lên mặt, khi khô thì bôi tiếp làm thành mặt nạ. Sau một giờ thì lột bỏ, rửa mặt sạch sẽ, đi ngủ. Tác dụng: chống sạm và thô da.


Theo nghiên cứu khoa học cho biết: thành phần protein và hàm lượng vitamin C trong trái Khổ qua (hay còn gọi là Mướp đắng) giúp nâng cao chức năng miễn dịch của cơ thể, làm tế bào miễn dịch có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư, đặc biệt là giúp giảm lượng đường trong máu... ngoài ra còn rất nhiều tác dụng khác trong trái Khổ qua. 
Vai trò của trái Khổ qua trong cuộc sống.
 
-   Dân gian thường cho rằng trái khổ qua có thể giúp ngừa thai, trị bệnh vảy nến và nhiều căn bệnh khác. Thế nhưng, công dụng trị bệnh chính của trái khổ qua được biết đến nhiều là giúp giảm lượng đường trong máu. Quả và hạt khổ qua có chứa nhiều chất có tác động lên lượng đường glucose hoặc insulin. Nhiều cuộc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và ở động vật cho thấy vị đắng trong trái khổ qua có thể kích thích đường ruột tiết ra chất không chế sự thèm ăn, nâng cáo tác dụng của hormone insulin (hormone trị bệnh tiểu đường), cải thiện khả năng hấp thu glucose của tế bào và cản trở gan tiết glucose. 
-   Từ năm 1998, tiến sĩ Carey của Mỹ từng có bài nghiên cứu nói rõ trong trái khổ qua có chất thanh trừ dầu mỡ, ông chứng minh những nhân tố thanh lọc dầu mỡ trong trái khổ qua sau khi đưa vào trong dạ dày se không trực tiếp thấm vào máu, mà chỉ có tác dụng ở cơ quan quan trọng nhất trong việc hấp thục mỡ của cơ thể là ruột non, rồi mới thông qua mạng lưới thay đổi tế bào đường ruột ngăn chặn việc hấp thụ các chất dinh dưỡng còn lại vào trong cơ thể, chúng không tham gia vào quá trình đào thải của cơ thể, vì vậy không hề có bất cứ tác dụng phụ nào. 
-   Không riêng ở Việt Nam mà tại nhiều nước khác trên thế giới như Ấn Độ, Châu Phu, Trung Quốc, vùng Amazonas Nam Mỹ và một số nơi khác, từ khá lâu mọi người đã coi khổ qua là một trong số những cây thuốc truyền thống, chủ yếu dùng để trị liệu, phòng ngừa những bệnh mãn tính như tiểu đường, đau đường kinh mạch, bệnh tê thấp, nổi mụn nước, sỏi thận, viêm phổi,…  
-   Ngoài ra, khổ qua còn có nhiều tác dụng khác như: kích thích ăn uống, tiêu viêm, thoái nhiệt, kích thích chức năng tiêu hóa; lợi tiểu, lưu thông máu, chống viêm, hạ sốt. 
-   Khi chế biến thức ăn, nên trụng khổ qua qua nước sôi để chất axit ôxalic trong khổ quả không ảnh hưởng đến việc hấp thu chất canxi có trong thức ăn thịt, cá...
Phương thuốc của thiên nhiên  
-   Giảm viêm tấy: Khổ qua giúp tăng khả năng tránh nhiễm khuẩn, giảm viêm sưng nhẹ và phần bã của trái Khổ qua chúng ta dùng đắp lên vết thương sẽ rất công hiệu. Chữa sốt, say nắng: nấu Khổ qua bỏ ruột cùng lá để lấy nước uống giúp chữa say nắng. 
-   Khổ qua có thể dùng thường xuyên và lâu dài, không kỵ thuốc tây. Ngày nay, khoa học phát triển nên người ta đã sử dụng Khổ qua để chế biến thành Trà Khổ qua: để giúp giải nhiệt, giảm đường máu, mỡ máu, kích thích tiêu hóa giúp ăn ngon miệng hơn. 
-   Nếu dùng tươi, lấy khoảng 200g-300g bỏ hết hạt, nấu chín và ăn cả nước lẫn cái. Dùng khô: lấy 30g-60g khô, nấu uống. Để tiết kiệm thời gian chế biến, có thể mua Trà Khổ Qua tại các siêu thị, cho ít khổ qua khô hoặc 1-2 gói trà khổ qua túi lọc vào nước sôi ngâm khoảng 3-5 phút là có thể dùng ngay. 
-   Chữa sạm da, thô da: nhiều phụ nữ đã phải khổ sở vì chứng sạm da, thô da xuất hiện trên cơ thể, nhất là những người mới sinh hoặc những người thường xuyên phải ra nắng. Một số loại mặt nạ thảo dược làm từ Cà chua, Khổ qua, Trứng gà, Dưa chuột,... có thể hạn chế tình trạng này. 
Từ những công dụng đó của trái khổ qua, nhiều năm nay, Công ty Cố phần Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre đã chế biến khổ qua trở thành một loại thức uống tiện lợi mà vẫn giữ nguyên những dưỡng chất sẵn có trong trái khổ qua tươi. Để làm được điều đó, Công ty Cầu Tre đã tìm tòi nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm chế biến trà khổ qua từ các nước nổi tiếng về trà như Đài Loan, Trung Quốc, đồng thời ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất với các loại máy móc thiết bị xuất sứ từ Nhật Bản và Châu Âu. Do đó, các sản phẩm trà khổ qua Cầu Tre có nhiều loại khác nhau như trà khổ qua túi lọc, khổ qua khô (có thể pha với nước dùng như một món giải khát hoặc nấu cùng với thịt để cho ra một món canh bổ dưỡng). Tất cả các sản phẩm khổ qua đều đạt chuẩn chất lượng trong nước cũng như quốc tế, và được xuất sang nhiều nước như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Philippine, v.v… tại Việt Nam, người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm mua trà khổ qua Cầu Tre tại các siêu thị trên cả nước. 

  Uống trà khổ qua và công dụng của Trà
Thấy ai uống trà, mình cũng bắt chuớc uống. Trà của người ta uống thì vui sướng ngâm nga, còn trà mình uống thì khổ quá kêu la..... Giới thiệu về công dụng của trái mướp đắng dùng làm trà cho mọi người.  Mướp đắng chống lại tình trạng tăng đường huyết cả do tụy và không do tụy. Mướp đắng (khổ qua) lượng vừa đủ, phơi hoặc sấy khô, mỗi ngày dùng 15 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà dược này có công dụng điều nhiệt, làm sáng mắt, giải độc và giảm đường huyết. Một số công thức trà dược khác cho bệnh nhân tiểu đường: - Nhân sâm 50 g, mạch môn 100 g, thiên hoa phấn 150 g. Tất cả sấy khô, tán vụn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày lấy 30 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: ích khí, sinh tân dịch, làm hết khát và hạ đường huyết. Nhân sâm giúp đại bổ nguyên khí, làm giảm đường huyết, cải thiện tình trạng suy nhược toàn thân, cải thiện chức năng tim mạch và dự phòng các biến chứng thứ phát. - Ngọc trúc, sa sâm, thạch hộc, mạch môn, ô mai mỗi thứ 100 g. Tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày lấy 100 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho người bị bệnh tiểu đường thuộc thể phế vị táo nhiệt lâu ngày khiến cho âm huyết hư tổn, biểu hiện: ăn nhiều, khát nhiều, tiểu tiện nhiều, thân thể hao gầy, họng khô miệng khát, có cảm giác sốt về chiều, lòng bàn tay, bàn chân nóng. Ngọc trúc và mạch môn đều kích thích các thành phần có hoạt tính làm giảm đường máu, riêng mạch môn còn thúc đẩy quá trình hồi phục của các tế bào tuyến tụy. - Vỏ dưa hấu 200 g, vỏ bí đao 200 g, thiên hoa phấn 120 g. Tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày lấy 100 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15-20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. đường có kèm theo các chứng trạng viêm nhiệt như lở miệng, môi, mụn nhọt, viêm da... - Địa cốt bì lượng vừa đủ, sấy khô, tán vụn, mỗi ngày lấy 15 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, làm mát huyết, giảm đường máu và huyết áp. Địa cốt bì có khả năng làm giảm đường máu, cải thiện tình trạng thương tổn tế bào bêta tuyến tụy. Ngoài ra, vị thuốc này còn có tác dụng làm giảm mỡ máu và hạ huyết áp nên rất thích hợp cho những người bị bệnh tiểu đường có kèm theo rối loạn lipid máu và tăng huyết áp. - Nhân sâm 30 g, hồng hoa 100 g. Hai thứ sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 13 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho người bị bệnh tiểu đường có biến chứng tim mạch. Hồng hoa có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu, cải thiện vi tuần hoàn, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu. Khi dùng nó với nhân sâm thì phức hợp này vừa có công dụng hạ đường huyết, vừa có khả năng dự phòng tích cực các biến chứng tim mạch thường có trên bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, đặc biệt là tình trạng viêm tắc động tĩnh mạch.


Trong y học cổ truyền và dân gian, từ lá, dây, trái và cả hạt khổ qua đều có công dụng chữa bệnh. Dược tính của khổ qua

Khổ qua (mướp đắng), theo y học cổ truyền có vị đắng, tính mát, không độc, có công dụng chính là thanh nhiệt, giải độc, giúp sáng mắt, nhuận trường, tiêu đờm. Theo lương y Trần Duy Linh (TP.HCM), trái khổ qua chín còn có tác dụng bổ thận, bổ huyết, kiện tỳ. Dây và lá khổ qua tươi đem nấu (hoặc giã lấy nước) để uống có công dụng hạ sốt, hoặc giã lá và dây để đắp trị mụn nhọt; dân gian một số nơi còn dùng khổ qua (loại mọc hoang dại, trái nhỏ bằng ngón chân cái) dùng cả trái, dây và lá để chữa trị các chứng thuộc về gan - bằng cách chặt khúc ngắn 3-4 cm, đem phơi khô để nấu nước uống hằng ngày; dây khổ qua còn dùng trị các chứng lỵ, đặc biệt là lỵ amíp; hạt khổ qua (hạt của trái già) dùng trị ho và viêm họng - bằng cách nhai hạt và nuốt nước từ từ rồi bỏ xác; người ta còn dùng hoa khổ qua phơi khô, tán thành bột để dành uống trị đau bao tử; dân gian thường dùng hạt khổ qua chữa trị mỗi khi bị côn trùng cắn - dùng khoảng

10 gr hạt nhai, nuốt nước, còn xác hạt thì đắp lên vết cắn; những người hay bị mụt nhọt có thể dùng lá khổ qua khô đốt cháy, tán thành bột mịn để đắp lên mụt nhọt... Hiện nay, khổ qua là loại dược liệu được nhiều người biết đến với công dụng hạ đường huyết - những người bệnh tiểu đường có thể dùng trái khổ qua tươi để cả hạt đem thái mỏng, phơi khô (dùng trái già càng tốt, nhưng không dùng trái chín). Mỗi ngày dùng khoảng 50 gr khổ qua khô này.

"Món ăn bài thuốc" từ khổ qua

Món dân gian thường dùng nhất là canh khổ qua dồn thịt - theo lương y Trần Duy Linh, món này vừa có tác dụng thanh nhiệt, chỉ khát (khô cổ, khát nước), vừa có tính chất bồi bổ cơ thể. Nguyên liệu thường dùng để cho vào bên trong trái khổ qua trước khi đem hầm là miến Tàu, thịt heo xay, nấm mèo, hành, tiêu trộn chung, ướp gia vị. Món quen thuộc nữa là khổ qua xào trứng vịt - dùng trái khổ qua bỏ hạt, bào mỏng rồi cho vào chảo xào, khi gần chín thì đập trứng cho vào, đảo sơ qua, nêm nếm gia vị. Những người thích ăn khổ qua, nhưng không thích vị đắng, thì nên dùng món này, vì khi khổ qua xào chung với trứng vịt, thì sẽ giảm đến 80% vị đắng của khổ qua. Dùng món này vừa có tính chất mát, vừa bổ dưỡng. Món tiếp theo là khổ qua chà bông - dùng trái khổ qua bỏ hạt, thái mỏng, ướp đá lạnh khoảng 15 phút, rồi dùng chung với chà bông. Món này có tác dụng nhuận trường, đặc biệt còn có tác dụng giải độc rượu.

Dân gian còn dùng món mứt làm từ trái khổ qua để giúp an thần, dễ ngủ - dùng loại khổ qua thật đắng (trái nhỏ, xanh đậm), bỏ ruột, dùng kim châm thật nhiều vào trái, và đem ngâm trong nước độ 30 phút, lấy ra cắt dày 2-3 phân, để ráo nước. Cho đường cát vào nồi bắc lên bếp đến khi đường tan, thì cho khổ qua vào để sên đường khoảng 1 giờ.

Trong món luộc ngũ quả (gồm 5 loại rau quả) của người Hoa, thường có sự hiện diện của khổ qua.

Tuy nhiên, lưu ý những người tỳ vị hư hàn, thường bị tiêu chảy, hay cơ thể không có thực nhiệt (không nóng trong người), thì không nên dùng thường xuyên khổ qua, vì dễ làm lạnh bụng, dễ bị tiêu chảy...

Câykhổ qua rừng thuộc họ Bầu Bí ( Cucurbitaceae) có tên khoa học ( tên Latin)  là Momordica Charantia , là loài dây leo mọc hoang trong vườn nhà thường thấy phổ biến ở miền Đông nam Bộ, trái giống như khổ qua bán ở chợ nhưng trái nhỏ hơn nhiều, chỉ bằng ngón tay cái .Dây khổ qua rừng thường tự mọc vào mùa mưa trên các hàng rào cuối vườn.Trái và đọt non dây khổ qua rừng là món đặc sản không thể thiếu ở vùng quê miền Đông như Bình Phước, Bình Long, Đống Nai, Bình Dương…, người dân dã hái trái khổ qua rừng luộc vùa chín rồi chấm với mắm cá (có nơi gọi là mắm phệt) ăn với cơm tạo nên khẩu vị vừa đắng vừa mặn xen lẩn vị tê cay của ớt khi nuốt vừa xuống họng cảm nhận vị ngọt tự nhiên của khổ qua rừng rất ngon miệng. Hoa khổ qua rừng màu vàng nhỏ xinh nổi bật trên dàn lá xẻ thùy sâu ( lá gần gống hoa nhưng màu xanh) Hoa khổ qua rừng màu vàng nhỏ xinh nổi bật trên dàn lá xẻ thùy sâu ( lá gần gống hoa nhưng màu xanh) Trái khi chín màu đỏ tươi trông rất đẹp Trái khi chín màu đỏ tươi trông rất đẹp Khổ qua rừng khi chín già trái nở bung ra phát tán những hạt màu đỏ khắp vườn bởi những chú chim tha hạt Khổ qua rừng khi chín già trái nở bung ra phát tán những hạt màu đỏ khắp vườn bởi những chú chim tha hạt Trái khổ qua rừng nhỏ hơn khổ qua thường rất nhiều Trái khổ qua rừng nhỏ hơn khổ qua thường rất nhiều, vị đắng, là một trong những dược liệu được khuyến khích sử dụng để làm giảm lượng đường, mỡ trong máu  Trái khổ qua rừng có vị rất đắng và và được chế biến giống như đối với khổ qua thường, do mọc hoang nên dây khổ qua rừng có sức sống mãnh liệt không cần phân bón và thuốc BVTV, khổ qua rừng là một loại rau sạch đúng ý nghĩa, trái khổ qua rừng là một trong những dược liệu được khuyến khích sử dụng để làm giảm lượng đường, mỡ trong máu và có tính mát nên dùng để trị rơm sảy cho trẻ em.Để trái khổ qua rừng có thể phát huy tác dụng phòng chữa bệnh thì cần sử dụng 3-4 lần trong tuần mới đạt yêu cầu và thời gian ăn phải tính hàng tháng thì bệnh mới thấy giảm rõ rệt. Theo kinh nghiệm , khi chế biến trái khổ qua rừng với cá thịt như nấu canh, hầm, nấu lẩu…cần trụng sơ qua nước vừa sôi rồi mới nấu như bình thường. Khổ qua rừng có tác dụng ngừa thai nên phụ nữ đang mang thai kỳ hoặc muốn có con không nên sử dụng .

 
KHỔ QUA RỪNG
    Dây khổ qua rừng
Dây khổ qua rừng mang quả
Quả khổ qua rừng Miền Nam
Quả khổ qua rừng chín
-Tên gọi khác: Ổ qua rừng, mướp đắng rừng, lương qua, cẩm lệ chi -Tên tiếng Anh: wild bitter melon, wild bitter gourd, wild bitter squash. -Tên khoa học: Momordica charantia  
Phân loại khoa học

Bộ (ordo): Bầu bí (Cucurbitales) Họ (familia): Bầu bí (Cucurbitaceae) Chi (genus): Mướp đắng (Momordica) Loài (species): Momordica charantia
  
Phân bố
Chi Mướp đắng (Momordica) là một Chi của khoảng 60 loài dây leo thân thảo sống một năm hoặc nhiều năm thuộc Họ Bầu Bí (Cucurbitaceae   
). Chi này có nguồn gốc bản xứ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Phi, Châu Á  ở Úc. 
Loài Khổ qua hay Mướp đắng (Momordica charantia) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Á hoặc Châu Phi nhưng không rõ có nguồn gốc ở nước nào. Khổ qua là một loài dây leo mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc họ Bầu bí, có quả ăn được, thuộc loại đắng nhất trong các loại rau quả. Tên gọi trong tiếng Anh của mướp đắng là bitter melon hay bitter gourd được dịch từ tiếng Trung: “kǔguā” (khổ qua); (“khổ”: đắng; “qua”: mướp; “khổ qua”: mướp đắng). Cây khổ qua hay mướp đắng mọc hoang được trồng rộng rãi ở Ấn Độ , Pakistan, Nam Phi, Đông Nam Á, Trung Quốc, Châu Phi và vùng Caribe. Ở Việt Nam khổ qua mọc hoang hay được trồng ở khắp nơi, nhưng nhiều nhất là ở Miền Nam. Khổ qua rừng và khổ qua trồng được xác định là cùng loài Momordica charantia. Khổ qua rừng mọc tự nhiên, là nguồn gốc của các giống (varieties) khổ qua trồng. Các bộ phận của dây khổ qua rừng có công dụng làm rau, thực phẩm và được liệu giống như khổ qua trồng, nhưng thân, lá và quả nhỏ hơn, vị đắng hơn. Về mặt dược liệu thì khổ qua rừng do sống trong tự nhiên, không có phân bón và thuốc hóa học nên là loại rau sạch tinh khiết và có giá trị dược liệu mạnh hơn khổ qua trồng.     Lưu ý! Trong dân gian tên gọi “Khổ qua rừng” hay “mướp đắng dại” còn để chỉ một vài giống (varieties) của loài Dây cứt quạ thuộc họ Bầu bí và có tên khoa học là Gymnopetalum cochinchinense (Lour.) Kurz. Thuộc chi Dây cứt quạ (Genus Gymnopetalum) khác biệt xa với chi Mướp đắng (Momordic)
    Để có độ chính xác trong khoa học, nên gọi “Khổ qua rừng” là cây khổ qua “chính hiệu” mọc hoang, đừng lầm lẩn với Dây cứt quạ (Gymnopetalum cochinchinense (Lour.) Kurz. Để phân biệt giữa hai Chi này nên tham khảo thêm: Chi Mướp đắng: Momordica http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi_Muop_dang Chi Dây cứt quạ: Gymnopetalum
 
Mô tả
Cây khổ qua là loài dây leo thân thảo sống hàng năm, chu kỳ sống 5-6 tháng. -Thân: Cây khổ qua có dạng dây leo bằng tua cuốn. Thân có cạnh, dây có thể bò 2-3 mét. -Lá: Lá mọc so le,  dài 5-10 cm, rộng 4-8cm, phiến lá chia làm 5-7 thuỳ, hình trứng, mép khía răng. Mặt dưới lá mầu nhạt hơn mặt trên, Gân lá có lông ngắn. -Hoa: Hoa đực và hoa cái mọc riêng ở nách lá, có cuống dài. Cánh hoa màu trắng. -Quả: Quả hình thoi, dài 8-10cm, mặt ngoài có nhiều u lồi. Quả chưa chín có mầu vàng xanh, khi chín mầu vàng hồng. Cây khổ qua (mướp đắng) có tác giả cho rằng nguồn gốc ở Châu Phi, mọc hoang ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Chây Phi và Châu Á. Khi dùng làm dược liệu, khổ qua rừng có tác dụng tốt hơn các giống khổ qua trồng.
  Các dạng quả khổ qua rừng
Kích cở quả khổ qua rừng

 

 

Thành phần hóa học
-Theo tài liệu của Trường đại học Purdue về các loại rau quả Châu Á nhập vào Mỹ, khổ qua có nhiều nước, protein, lipid, carbohydrat, vitamin A, B1, B2, C, khoáng chất như calcium, potassium, magné, sắt, kẽm. -Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, thành phần dinh dưỡng trong 100 gam quả khổ qua tươi (phần vỏ quả) có các chất như sau:
  Năng lượng 79 kJ (19 kcal) Carbohydrat   4.32 g   Đường 1.95 g Chất xơ thực phẩm 2.0 g Chất béo   0.18 g   Chất béo no 0.014 g Chất béo không no đơn 0.033 g Chất béo không no đa 0.078 g Protein   0.84 g   Nước   93.95 g   Vitamin A equiv. 6 μg (1%) Thiamin (Vit. B1) 0.051 mg (4%) Riboflavin (Vit. B2) 0.053 mg (4%) Niacin (Vit. B3) 0.280 mg (2%) Vitamin B6 0.041 mg (3%) Axit folic (Vit. B9) 51 μg (13%) Vitamin B12 0 μg (0%) Vitamin C   33.0 mg (55%)   Vitamin E   0.14 mg (1%)   Vitamin K   4.8 μg (5%)   Canxi   9 mg (1%)   Sắt   0.38 mg (3%)   Magie   16 mg (4%)   Phospho   36 mg (5%)   Kali   319 mg (7%)   Natri   6 mg (0%)   Kẽm   0.77 mg (8%)  

Công dụng
     
 

 

a-Các bộ phận cây khổ qua rừng được dùng làm rau
Khổ qua rừng dĩ nhiên là mọc hoang trong rừng, quả có kích thước gầng bằng quả trứng, thường thấy ở miền Đông Nam Bộ - nhất là miệt đất đỏ Bình Long (Bình Phước). Khổ qua rừng được người dân hái nấu canh, ăn đắng hơn loại khổ qua trồng ở đồng bằng. Các bộ phận của dây khổ qua rừng được dùng làm rau như khổ qua thường, nhưng có vị đắng hơn, có dược tính cao hơn.      
1-Lá và đọt khổ qua non khổ qua rừng dùng làm rau
 
 
-Lá và đọt khổ qua rừng non dùng có thể dùng làm rau sống, nhưng do có vị rất đắng nên ít có người thích ăn. -Lá và đọt khổ qua non dùng có thể dùng làm rau luộc, xào. Nhưng có vị đắng hơn khổ qua thường. -Lá và đọt khổ qua non dùng làm rau nấu canh, là loại canh có tác dụng giải nhiệt rất tốt. Canh lá và đọt khổ qua rừng có thể nấu chay, canh mặn nấu với xương, cá và thịt bầm vò viên ăn rất hấp dẫn.      
2-Quả khổ qua xanh dùng làm rau xào, nấu canh, hầm
 
 
-Quả khổ qua rừng xanh, bỏ ruột, xắt mỏng làm món rau xào riêng hoặc hổn hợp với nhiều loại ra quả khác, đặc biệt món ổ qua xắt mỏng xào trứng. -Khổ qua rừng xanh bổ dọc và xắt khúc nấu canh với thịt, xương có vị canh rất ngon. -Món khổ qua hầm: Do khổ qua rừng có quả nhỏ nên không thích hợp dồn thịt, cá bầm làm nhân để hầm, tuy nhiên món khổ qua rừng hầm có giá trị dược liệu cao hơn khổ qua trồng, hiện là mốt mới trong các nhà hàng đặc sản.
Chuẩn bị món Khổ qua rừng hầm thịt -Khổ qua rừng xanh bào mỏng còn được dùng để nhúng lẫu chua hay lẫu ngọt.      
 

 

b-Các bộ phận cây khổ qua rừng được dùng làm thuốc
Trong Y học dân gian và Y học cổ truyền ở các nước Châu Á và Châu Phi thì các bộ phận của cây khổ qua từ lá, dây, quả và cả hạt khổ qua rừng đều có nhiều công dụng dược liệu để chữa nhiều bệnh khác nhau. Khổ qua rừng đã được sử dụng trong các hệ thống y tế ở Châu Á và Châu Phi với dạng các thảo dược khác nhau trong một thời gian dài. Ngày nay Tây y cũng đã có nhiều nghiên cứu tính dược từ cây khổ qua rừng để xác định tính dượng và dùng trong bào chế thuốc chữa bệnh.      
a-Theo Đông y:
Khổ qua (mướp đắng) rừng có vị đắng, tính mát, không độc, có công dụng chính là thanh nhiệt, giải độc, giúp sáng mắt, nhuận trường, tiêu đờm. Dùng trong các trường hợp trúng nắng, sốt nóng mất nước, hội chứng lỵ, viêm nhiễm đường sinh dục, tiết niệu, mụn nhọt, viêm kết mạc cấp và mãn tính. Ngoài ra, khổ qua rừng còn có tác dụng thường xuyên giúp tinh thần thư thái, an thần, giảm stress, giúp da dẻ mịn màng, ngăn ngừa và chữa các căn bệnh về da. Đặc biệt công năng kiện tì, thúc đẩy chuyển hóa của chất trong khổ qua giúp cơ thể ức chế sự chuyển hóa và hấp thu đường trong cơ thể, ngăn ngừa căn bệnh đái tháo  đường và ổn định đường huyết ở người tiểu đường. Dây và lá khổ qua tươi đem nấu (hoặc giã lấy nước) để uống có công dụng hạ sốt, hoặc giã lá và dây để đắp trị mụn nhọt; dân gian một số nơi còn dùng khổ qua rừng cả trái, dây và lá để chữa trị các chứng thuộc về gan - bằng cách chặt khúc ngắn 3-4 cm, đem phơi khô để nấu nước uống hằng ngày; dây khổ qua còn dùng trị các chứng lỵ, đặc biệt là lỵ amíp; hạt khổ qua (hạt của trái già) dùng trị ho và viêm họng - bằng cách nhai hạt và nuốt nước từ từ rồi bỏ xác; người ta còn dùng hoa khổ qua phơi khô, tán thành bột để dành uống trị đau bao tử; dân gian thường dùng hạt khổ qua chữa trị mỗi khi bị côn trùng cắn - dùng khoảng 10 gr hạt nhai, nuốt nước, còn xác hạt thì đắp lên vết cắn; những người hay bị mụt nhọt có thể dùng lá khổ qua khô đốt cháy, tán thành bột mịn để đắp lên mụt nhọt... Hiện nay, khổ qua rừng là loại dược liệu được nhiều người biết đến với công dụng hạ đường huyết - những người bệnh tiểu đường có thể dùng trái khổ qua tươi để cả hạt đem thái mỏng, phơi khô (dùng trái già càng tốt, nhưng không dùng trái chín). Mỗi ngày dùng khoảng 50 gr khổ qua khô này. (Theo lương y Trần Duy Linh -TP.HCM).      
b-Theo Tây y
Trong vài thập kỷ trở lại đây Tây y đã tập trung nghiên cứu tính dược từ cây khổ qua rừng nhằm kiểm tra lại tính hiệu quả của các bài thuốc dân gian được dùng phổ biến ở Châu Á và Châu Phi cũng như tìm cơ sở khoa học cho các thức ăn thực dưỡng và điều chế tân dược.      
+Các kết quả nghiên cứu
 
 
     
-Các hoạt chất (Active substances)
 
 
Trong các bộ phận của cây khổ qua rừng có chứa một số hợp chất có hoạt tính sinh học, chủ yếu là momordicin I (C30H48O4), momordicin II và cucurbitacin B. Trong cây khổ qua cũng có chứa một số glycosides có hoạt tính sinh học (bao gồm cả momordin, charantincharantosidesgoyaglycosidesmomordicosides) và các hợp chất terpenoid khác (bao gồm cả momordicin-28momordicininmomordicilin, momordenolmomordol). Đồng thời trong cây khổ qua rừng cũng chứa protein gây độc tế bào (cytotoxic proteins) có tác dụng bất hoạt ribosome (ribosome-inactivating) như momorcharin và momordin.      
 

 

-Chống ung thư (Anticancer)
Hai hợp chất chiết xuất từ ​khổ qua, α-eleostearic acid (từ hạt) và 15,16-dihydroxy-α-eleostearic acid (từ quả) đã được tìm thấy tác dụng ngăn chặn tế sự phát triển của tế bào ung thư bạch cầu (apoptosis of leukemia    
 

 

 cells) trong ống nghiệm.
Chế độ ăn có chứa chất dầu từ quả khổ qua 0,01% (cũng như 0,006% chất α-eleostearic acid từ hạt) đã được chứng minh ngăn chặn được tác hại của chất sinh ung thư  đại tràng do chất azoxymethane và chất carcinogenesis trong thí nghiệm ở chuột. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Saint Louis khẳng định một chất chiết xuất từ ​​quả khổ qua, thường được ăn và được biết đến như “karela” ở Ấn Độ, gây ra một chuỗi các phản ứng, giúp tiêu diệt các tế bào ung thư vú và ngăn ngừa không cho chúng nhân ra.      
-Tác dụng tẩy giun (Antihelmintic)
 
 
Khổ qua rừng được sử dụng như một loại thuốc dân gian ở Togo (Tây Phi) để điều trị các bệnh đường tiêu hóa, và các chiết xuất đã cho thấy hoạt động trong ống nghiệm chống được loài giun tròn Caenorhabditis elegans.      
 

 

-Chống sốt rét (Antimalarial)
Khổ qua rừng ở Châu Á được coi là hữu ích trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh sốt rét (malaria). Trà từ lá khổ qua rừng cũng được dùng để trị sốt rét ở Panama và Colombia. Ở Guyana, khổ qua rừng luộc và xào với tỏi và hành, món ăn phổ biến này được gọi là “corilla” được ăn để ngăn chặn bệnh sốt rét. Nghiên cứu phòng thí nghiệm đã xác nhận rằng các loài liên quan đến khổ qua rừng có tác động chống sốt rét, mặc dù các nghiên cứu này vẫn chưa được xuất bản chính thức.      
 

 

-Kháng virus (Antiviral)
Ở Togo cây khổ qua rừng được sử dụng chống lại các bệnh do virus như thủy đậu (chickenpox) và sởi (measles). Các thử nghiệm in vitro với chiết xuất lá đã thể hiện hoạt tính chống lại virus herpes simplex type 1 do các hợp chất momordicins. Xét nghiệm cho thấy các hợp chất trong khổ qua rừng có thể có hiệu quả để điều trị nhiễm virus HIV. Nhưng còn nhiều rào cản để đưa chất này vào cơ thể. Như hầu hết các hợp chất cô lập từ khổ qua tác động đến HIV đều ở dạng protein hoặc lectin, các chất này không thể được hấp thụ nguyên vẹn vào đường ruột, do đó dù có ăn, uống các sản phẩm từ cây khổ qua rừng  nhưng chúng không có tác dụng ngăn chặn tiến triển của virus HIV. Tuy nhiên người nhiểm HIV ăn nhiều khổ qua rừng sẽ bù đắp được những tác động tiêu cực của thuốc điều trị HIV.      
 

 

-Bảo vệ tim mạch (Cardioprotective)
Các nghiên cứu ở chuột cho thấy hạt khổ qua rừng có tác dụng bảo vệ tim mạch bằng cách điều chỉnh hạ xuống con đường viêm NF-κB (NF-κB inflammatory pathway).      
 

 

-Bệnh tiểu đường (Diabetes)
Năm 1962, Lolitkar và Rao chiết xuất từ ​​cây khổ qua một chất, mà họ gọi là charantin có tác dụng hạ đường huyết (hypoglycaemic) trên thỏ bình thường và thỏ bệnh tiểu đường. Vào năm 1981, Visarata và Ungsurungsie thí nghiệm trên thỏ bị tiểu đường, cho thấy dịch chiết từ quả khổ qua làm tăng độ nhạy cảm của cơ chế sản sinh chất insulin. Trong năm 2007, một nghiên cứu của Bộ Y tế Philippines xác định một liều hàng ngày dùng 100 mg chất charantin trong quả khổ qua cho mỗi kg trọng lượng cơ thể tương đương với 2,5 mg / kg thuốc giảm tiểu đường glibenclamide uống hai lần mỗi ngày. Các loại thuốc viên nén chiết xuất từ ​​khổ qua được bán ở Philippines như là một thực phẩm bổ sung và xuất khẩu sang nhiều nước. Các hợp chất khác trong khổ qua đã được tìm thấy để kích hoạt AMPK, loại protein điều hòa sự hấp thu glucose (một quá trình mà bị suy giảm ở bệnh nhân tiểu đường). Khổ qua cũng chứa một chất lectin có hoạt động giống như insulin do cấu trúc phi protein của nó gắn kết thụ thể insulin. Lectin này làm giảm nồng độ đường trong máu bằng cách tác động lên các mô ngoại vi, tương tự như tác dụng của insulin trong não, ức chế sự thèm ăn. Lectin này có thể là một đóng góp lớn cho tác dụng hạ đường huyết phát triển sau khi ăn nhiều khổ qua. Khi khổ qua sống rất đắng, nó phải được nấu chín để làm cho nó ngon miệng. Theo nghiên cứu của các chuyên gia nội tiết và các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc) và Viện Y Dược Thượng Hải (Trung Quốc) cho thấy các chất charantin, polypeptid-P và vicine trong khổ qua có tác dụng tương đương insulin và có vai trò giảm đường huyết, cải thiện và ức chế dung nạp đường của tế bào, từ đó ổn định đường huyết và ngăn chặn sự phát triển, biến chứng của tiểu đường. Nghiên cứu đã được các nhà khoa học áp dụng thành công trên chuột thực nghiệm và thu được kết quả cao trong nhóm người tiểu đường tuýp 2. Ăn nhiều khổ qua là một bài thuốc đơn giản giúp bệnh nhân tiểu đường.      
 

 

-Giảm Cân (Weight Loss)
Món ăn Trung Quốc bằng sự kết hợp giữa khoai từ-khổ qua có tác động tạo kết quả giảm cân rõ rệt cho người béo phì. Trong khoảng thời gian 23 tuần, những người ăn chế độ ăn uống có khổ qua đã giảm cân trung bình 7 kg.

 

 

-Các ứng dụng khác (Other uses)
Khổ quađã được sử dụng trong y học cổ truyền cho các bệnh khác, bao gồm cả bệnh lỵ  đau bụng  sốt (fevers), bỏng (burns), đau kinh nguyệt (painful menstruation) , ghẻ và các vấn đề về da khác. Nó cũng đã được sử dụng như một chất ngừa thai  để tránh thai (), và để giúp sinh con

 

-Lưu ý (Cautions)
Các hạt khổ qua có chứa chất vicine, một loại alkaloid glycoside, vì vậy có thể gây ra các triệu chứng của bệnh thiếu máu huyết tán ở những người nhạy cảm. Ngoài ra, các lớp vỏ hạt  màu đỏ của hạt khổ qua được báo cáo là độc hại cho trẻ em, và khổ qua được chống chỉ định trong thời kỳ mang thai

 

 

+Tác dụng thực dưỡng theo Tây y
 
-Phòng chống ung thư: Thành phần protein và nhiều lượng vitamin C trong quả khổ qua giúp nâng cao chức năng miễn dịch của cơ thể, làm cho tế bào miễn dịch có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư; Nước cốt mướp đắng chứa thành phần protein tựa như hoạt chất Alkaloid, giúp tăng cường chức năng nuốt của các thực bào.

 

-Giảm thấp đường huyết: Nước cốt quả khổ qua tươi tươi, có tác dụng hạ đường huyết tốt, là món ăn lý tưởng cho người bệnh tiểu đường.

 

 

Các món ăn, bài thuốc từ cây khổ qua rừng ở Việt Nam
1-Món khổ qua rừng xào trứng vịt: Dùng quả khổ qua rừng bỏ hạt, bào mỏng rồi cho vào chảo xào, khi gần chín thì đập trứng cho vào, đảo sơ qua, nêm nếm gia vị. Những người thích ăn khổ qua, nhưng không thích vị đắng, thì nên dùng món này, vì khi khổ qua xào chung với trứng vịt, thì sẽ giảm đến 80% vị đắng của khổ qua. Dùng món này vừa có tính chất mát, vừa bổ dưỡng. (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM). 2-Món khổ qua rừng xào cà rốt: Khổ qua rừng 60g, cà rốt 60g, thêm hành tiêu gia vị xào với lửa to. Ăn ngày 2 lần. Dùng cho các trường hợp tiêu chảy, đặc biệt là ở trẻ nhỏ với liều bằng nửa của người lớn. (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM). 3-Món khổ qua rừng với cá, thịt chà bông: Dùng quả khổ qua rừng  bỏ hạt, thái mỏng, ướp đá lạnh khoảng 15 phút, rồi dùng chung với cá hay thịt chà bông. Món này có tác dụng nhuận trường, đặc biệt còn có tác dụng giải độc rượu. (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM). 4-Món canh rau tập tàng nấu với đọt và lá khổ qua rừng non: Dùng đọt và lá khổ qua non nấu canh với rau tập tàng (hổn hợp nhiều loại rau rừng), ăn có tác dụng giải cảm, nhuận tràng. (theo kinh nghiệm dân gian Việt Nam). 5-Món thịt nạc hầm khổ qua rừng, củ cải: Khổ qua 250g - 500g, thịt lợn nạc 125g - 250g, củ cải 100g - 200g. Khổ qua rửa sạch thái lát, thịt lợn nạc thái miếng, củ cải thái miếng; hầm với nước; khi đã chín thêm gia vị. Cho ăn ngày 1 lần, liên tục 20 ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm họng mạn tính, đau rát họng, ho khan, viêm nề hoặc viêm teo niêm mạc họng. (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM). 6-Nước khổ qua rừng tươi đun sôi: Khổ qua rừng tươi 300g để cả ruột. Trước tiên rửa sạch khổ qua, cắt lát, cho vào nồi, thêm 200ml nước, nấu khoảng 10 phút. Nước nấu khổ qua có công hiệu thanh nhiệt sáng mắt, thích hợp dùng cho người bệnh can hỏa (gan nóng) bốc lên, mắt đỏ sưng đau. (theo Y học cổ truyền Việt nam). 7-Nước sắc khổ qua rừng: Khổ qua 1 - 2 quả, tách bỏ ruột, thái lát, sắc lấy nước cho uống. Dùng cho các trường hợp tiểu đường, sốt cao mất nước, miệng khô, họng khát. (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM). 8-Nước chiết khổ qua rừng ướp đường: Khổ qua tươi 1 - 2 quả. Khổ qua rừng rửa sạch, nghiền nát nhuyễn, cho thêm 100g đường trắng trộn khuấy đều để sau 2 giờ đem khuấy nước sôi nguội và lọc lấy nước cho uống 1 lần. Dùng cho chứng nhiệt lỵ. (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM). 9-Trà khổ qua rừng: Khổ qua rừng 2-3 quả, trà xanh với lượng vừa. Khổ qua rừng cắt bỏ một phần trên, móc bỏ ruột, nhét trà xanh vào, treo quả khổ qua ở nơi thoáng gió; một thời gian sau, lấy xuống, rửa sạch, cùng trà cắt nhuyễn, trộn đều, mỗi lần lấy 10g cho vào một tách, hãm với nước sôi. Món trà này có tác dụng thanh nhiệt giải thử (làm mát chống say nắng); miệng khát phiền nhiệt. Cách chế biến khác: Dùng thân, lá và quả dây khổ qua rừng, xắt nhỏ, phơi khô, sao vừa vàng để bảo quản lâu. Khi uống pha với nước sôi chung với trà xanh.

 

 

Trà khổ qua giúp giải nhiệt, tâm thần bất định, hồi hộp, kích thích tiêu hóa ăn ngon miệng. hơn. (Theo BS. LÊ THÚY TƯƠI).
 
Lưu ý!
Những người tỳ vị hư hàn, thường bị tiêu chảy, hay cơ thể không có thực nhiệt (không nóng trong người), thì không nên dùng thường xuyên khổ qua, vì dễ làm lạnh bụng, dễ bị tiêu chảy... (theo lương y Trần Duy Linh-TP HCM).

 

Các bài thuốc chửa bệnh từ cây khổ qua rừng

 

 

1-Giảm viêm tấy: Khổ qua rừng tăng khả năng tránh nhiễm khuẩn, giảm viêm sưng nhẹ và phần bã đắp lên vết thương sẽ rất công hiệu. (Theo BS. LÊ THÚY TƯƠI).

2-Chữa sốt, say nắng: Nấu khổ qua rừng bỏ ruột cùng lá khổ qua để lấy nước uống giúp chữa say nắng. (Theo BS. LÊ THÚY TƯƠI).

 

3-Kích thích ăn uống, tiêu viêm, thoái nhiệt: Khổ qua rừng giúp kiện tỳ khai vị (kích thích chức năng tiêu hóa); Alkaloid trong quả khổ rừng qua có công hiệu lợi niệu hoạt huyết (lợi tiểu, máu lưu thông); tiêu viêm thoái nhiệt (chống viêm, hạ sốt); thanh tâm minh mục (mát tim sáng mắt).

 

4-Nước tắm cho trẻ em nhiều rôm sảy: Khổ qua rừng 4-5 quả. Rửa sạch, bổ làm đôi, nấu với nước, lấy nước tắm cho trẻ. Ngày làm 1 lần. (theo bài thuốc dân gian Việt Nam).

6-Chữa ho: Khổ qua rừng 1-2 quả. Rửa sạch, bổ làm đôi, nấu với nước, lấy nước uống trong ngày.(theo bài thuốc dân gian Việt Nam).

7-Chữa thấp khớp: Lá khổ qua rừng 8g, dây đau xương sao 8g, cây xấu hổ 8g, rễ nhàu 8g, cỏ xước 8g, cây vòi voi sao 8g, cối xay 8g, rễ ngũ trảo 5g, dây thần thông 5g, quế chi 4g, gừng tươi 3g. Sắc uống ngày 1 thang. (theo Lương y Chu Văn Tiến).


Tác dụng của cây tầm gửi
Công dụng chữa bệnh của cây dâu tằm
Công dụng chữa bệnh của cây lá lốt
Tác dụng của cây lược vàng
Tác dụng chữa bệnh của củ gừng
Tác dụng chữa bệnh của Atiso


(st)

 

• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.
1
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 1 click
An Cái này thì mình chưa biết. Bạn có thể tham khảo: một số bài thuốc hỗ trợ điều trị bướu cổ: - Cháo ngũ vị: Lúa mạch 150 g, toan táo nhân 10 g, ngũ vị tử 10 g, mạch môn 10 g, hạt sen 20 g, long nhãn 10 g. Toan táo nhân, ngũ vị tử giã vụn, sắc cùng với mạch môn, lấy nước đặc. Hạt sen bỏ tâm, nấu nhừ để riêng. Lúa mạch nấu thành cháo, khi sắp chín thì cho các vị kia vào. Ăn mỗi ngày một bát. - Côn bố, hải tảo (rong biển), thông thảo, vỏ hến hoặc vỏ sò (nung thành vôi, tán nhỏ) mỗi vị 40 g, thịt yếm ở cổ con dê 240 g (thái miếng, sấy khô). Tất cả tán thành bột, làm viên, uống mỗi lần 8 g, ngày 3 lần. - Hải tảo, hạ khô thảo mỗi vị 30 g; huyết giác, mộc thông, nga truật, xạ can, liên kiều, đơn bì, huyền sâm mỗi vị 15 g. Tất cả sắc lấy nước, uống với bột mẫu lệ (vỏ hàu nung tán nhỏ). Ngày uống 15 g, chia làm 3 lần.
Câu trả lời được gửi + 1 ngày trước

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 47 phút trước
0 Trả lời 0 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 52 phút trước
0 Trả lời 0 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 1 giờ trước
0 Trả lời 1 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 2 giờ trước
0 Trả lời 1 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 2 giờ trước
0 Trả lời 0 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 2 giờ trước
0 Trả lời 0 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 3 giờ trước
0 Trả lời 3 click