Tác dụng chữa bệnh của cây ngũ gia bì

Ngũ gia bì còn có tên là cây chân chim, sâm non, thuộc loại cây cảnh đắt tiền. Trong Đông y, nó được dùng chữa đau nhức xương khớp, đau bụng, suy nhược...



Ngũ gia bì có 2 loại (chân chim và nhiều gai), đều là cây thuốc quí thuộc họ Nhân sâm. Bài viết này chỉ đề cập đến cây Ngũ gia bì chân chim, tên khoa học Scheffera octophylla (Lour) Harms. Cây cao 2-8 m. Lá kép hình chân vịt, mọc so le, có 6-8 lá chét hình trứng. Cụm hoa mọc thành chùm tán, hoa nhỏ màu trắng. Quả mọng hình cầu, đường kính 3-4 mm, khi chín có màu tím đen, trong có 6-8 hạt.

Cây mọc nhiều ở các tỉnh phía Bắc, miền Trung và có nhiều ở dãy Nam Trường Sơn. Ngay cả vùng đồng bằng cũng trồng tốt. Gần đây, ngũ gia bì chân chim được xem là cây cảnh đẹp thuộc loại “cao cấp”, đắt tiền.

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy ngũ gia bì có những tác dụng tốt trong điều trị các bệnh về nội khoa. Trong Đông y, nó là một vị thuốc quý có tác dụng làm mạnh gân cốt, trừ phong, đau nhức xương khớp, đau bụng, trẻ em vận động cơ bắp yếu, hạn chế đi lại, chống suy nhược thần kinh, tăng trí nhớ, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt...

Ngũ gia bì có tác dụng rất tốt trong điều trị các bệnh mạn tính ở người cao tuổi, tăng sức đề kháng, bồi dưỡng sức khỏe, trị đau nhức khớp ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh. Nó có tác dụng tốt với bệnh nhân suy giảm chức năng gan, rối loạn nhẹ bilirubin máu toàn phần. Ngũ gia bì còn có tác dụng hạ đường máu ở những bệnh nhân đái tháo đường tụy, điều trị sau phẫu thuật. Không được dùng cho những bệnh nhân đường máu thấp.

Rượu ngũ gia bì: Ngũ gia bì cạo sạch lớp bẩn dính bên ngoài vỏ; rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, xay tán thành bột. Cứ 100 g bột ngũ gia bì, cho 1 lít rượu gạo 45 độ ngâm trong 10 ngày, lắc đều trước khi uống, uống 1 cốc con trước mỗi bữa cơm chiều. Tác dụng: Chữa đau nhức khớp xương, giúp ăn ngủ ngon.

Đơn thuốc cho phụ nữ: Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy mỗi vị 40 g, sao vàng tán nhỏ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 g. Bài này rất tốt cho phụ nữ tuổi cao, người lao động nặng, mỏi mệt toàn thân, hơi thở ngắn (thường thở ra, xây sẩm mặt mày), cảm sốt ra nhiều mồ hôi, ăn uống kém, ngủ ít.


Tác dụng

 

 

 

 Bổ trung, ích tinh, mạnh gân xương, tằn trí nhớ (Danh Y Biệt Lục).Ngũ gia bì, ngu gia bi, ngu da bi, ngũ gia bì, Cortex Acanthopanacis Radicis,

 

 

 

+ Minh mục, hạ khí bổ ngũ lao, thất thương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

 

 

 

+ Mạnh gân xương  (Bản Thảo Cương Mục).

 

 

 

+ Hoá đờm, trừ thấp, dưỡng thận, ích tinh, trừ phong, tiêu thuỷ (Bản Thảo Tái Tân).

 

 

 

+ Trừ phong thấp, mạnh gân xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

 Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốc Chủ trị

 

 

 

 Có tác dụng trị mệt mỏi tốt hơn Nhân sâm. Tăng sức chịu đựng đối với thiếu oxy, nhiệt độ cao, điều tiết rối loạn nội tiết, điều tiết hồng cầu, bạch cầu và huyết áp, chống phóng xạ, giải độc. Ngũ gia bì có tác dụng chống lão suy, tăng thể lực và trí nhớ, tăng chức năng tuyến tình dục và quá trình đồng hoá, gia tăng quá trình chuyển hoá và xúc tiến tổ chức tái sinh (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Có tác dụng tăng cường miễn dịch của cơ thể như tăng khả năng thực bào của hệ tế bào nội bì võng, tăng nhanh sự hình thành kháng thể, làm tăng trọng lượng của lách. Thuôc còn có tác dụngkháng virus, kháng tế bào ung thư, điều chỉnh miễn dịch (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Ngũ gia bì có tác dụng an thần rõ, điều tiết sự cân bằng giữa hai quá trình ứ chế và hưng phấn của trung khu thần kinh. Tác dụng hưng phấn của thuốc không làm ảnh hưởng đến giấc ngủ bình thường (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Ngũ gia bì có tác dụng kháng viêm cả đối với viêm cấp và mạn tính (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Ngũ gia bì có tác dụng gĩan mạch, làm tăng lưu lượng máu động mạch vành và hạ huyết áp (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Thuốc có tác dụng long đờm, giảm ho và làm giảm cơn hen suyễn (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Ngũ gia bì có tác dụng chống ung thư (Trung Dược Học).

 

 

 

+  Ngũ da bì có tác dụng chữa đau nhức xương khớp, bổ can thận, khu phong, hóa thấp

 

 

 

 Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốc Kiêng kỵ

 

 

 

 Âm hư hoả vượng: không dùng (Thực Dụng Trung Y Học).

 

 

 

 Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốc Đơn thuốc kinh nghiệm

 

 

 

+ Trị phong thấp đau nhức, cơ thể mệt mỏi, đau nhức, liệt dương: Ngũ gia bì sao vàng 100g, rượu 30o một lít, ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 20~40ml vào trước bữa ăn tối (Ngũ Gia Bì Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 

 

 

+ Trị thấp khớp:  Ngũ gia bì, Mộc qua, Tùng tiết đều 120g. Tán bột, mỗi lần uống 3~4g, ngày 2 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 

 

 

+ Trị phụ nữ cơ thể suy nhược: Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, Xích thược, Đương quy đều 40g. Tán bột. Ngày uống hai lần, mỗi lần 4g (Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).

 

 

 

+ Trị gẫy xương, sau khi phục hồi vị trí: Ngũ gia bì, Địa cốt bì đều 40g, tán nhuyễn, Gà 1 con nhỏ, lấy thịt, gĩa nát, trộn đều với thuốc, đắp bên ngoài, bó nẹp cố định, sau một uần, bỏ nẹp đi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

 

 

 

+ Trị ngực đau thắt, mỡ máu cao: Dùng chất chiết xuất từ Thích Ngũ gia bì (Nam Ngũ gia bì)  chế thành thuốc viên ‘Quan Tâm Ninh’. Uống mỗi lần 3 viên, ngày 3 lần, liên tục 1~3 tháng. Đã trị 132 ca ngực đau thắt, có kết quả 95,45%, mỡ máu cao 53 ca, kết quả làm hạ Cholesterol và Triglycerid (Trung Y Dược Học Báo 1987, 4: 36).

+ Trị bạch cầu giảm: dùng Thích Ngũ gia bì trị 43 ca bạch cầu giảm. Kết quả cho thấy so với chứng giảm bạch cầu do hoá liệu, có kết quả tốt hơn (Quảng Tây Y Học Viện Học Báo 1978, 3: 1).

 

 

 

+ Trị bạch cầu giảm: Dùng viên Ngũ gia bì trị 22 ca, có kết quả 19 ca (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí 1982, 6: 52).

 

 

 

+ Trị nhồi máu não: Dùng dung dịch chíhc Ngũ gia bì 40ml, cho vào 300ml dịch truyền Glucoz 10%, truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, kèm uống thuốc thang. Theo dõi 20 ca, có kết quả tốt (Cam Túc Trung Y Học Viện Học Báo 1988, 1: 27).

 

 

 

+ Trị huyết áp thấp: Dùng viên Ngũ gia bì, mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày là một liệu trình. Kết quả tốt (Châu Long, Trung Quốc Dược Thành Phẩm Đích Nghiên Cứu 1985, 12: 43).

 

 

 

Tìm hiểu thêm

 

 

 

 Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốcTên khoa học:

 

 

 

(Cortex Acanthopanacis Radicis).

 

 

 

  Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốcCách dùng

 

 

 

 Bóc vỏ, rửa sạch, phơi khô trong râm. Dùng sống hoặc rửa rượu rồi sao (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

 Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốcTính vị

 

 

 

+ Vị cay, tính ôn (Bản Kinh).

 

 

 

+ Vị cay, đắng, tính ôn (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

+ Vào kinh Phế, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

 

 

 

+ Vào kinh Can, Thận (Trung Dược Học).

 

 

 

+ Vào kinh Can, Thận (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 

 

 

 Ngũ gia bì, ngu gia bi, Ngũ da bì, ngu da bi - vị thuốcTham khảo:

 

 

 

Ngũ gia bì có thể làm mạnh gân xương được là nhờ công năng khu phong, trừ thấp. Khu được tà thì Can Thận mạnh, gân xương được thông. Ngũ gia bì có hai loại, thứ dùng làm thuốc là Nam Ngũ gia bì, có mùi thơm. Cong bắc Ngũ gia bì có độc, khi dùng phải cẩn thận (Thực Dụng Trung Y Học).

+ Ngũ gia bì tuy không có tác dụng thuần bổ nhưng cùng không có hại tổn thương chính khí. Gọi là Ngũ gia bì tửu nên có thể dùng uống lâu dài (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Thật khó chịu khi bị muỗi đốt hay nghe tiếng muỗi vo ve bên tai. Không cần xịt thuốc mà muỗi vẫn chết? Thật đơn giản, ngay hôm nay bạn hãy thử trồng cây Ngũ gia bì chân chim - cây sẽ giúp bạn góp phần cải thiện môi sinh.





Cây Ngũ gia bì chân chim hay còn gọi là Chân chim, Sâm nam, cây Chân vịt, tên khoa học Schefflera octophylla Lour, họ ARALIACEAE. Trong Đông y dùng Vỏ cây phơi hoặc sấy khô là vị thuốc trong Đông y dùng chữa tê thấp, đau nhức xương. Dược điển Việt Nam năm 1983 đã ghi nhận điều này.
Trong thực tế, những người sống ở vùng ẩm thấp thường trồng cây này trong vườn nhà, quanh tường vừa làm cây cảnh vừa có tác dụng trừ muỗi rất tiện lợi.

Theo Cơ quan nghiên cứu Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) thì cây Ngũ gia bì có khả năng chống ô nhiễm và khử được khí độc Formaldehyd trong nhà.
Chúng tôi đã thử trồng nhiều chậu Ngũ gia bì chân chim và đặt gần thềm bậc cửa ra vào đã thấy đổi khác rõ rệt: trước đây chưa có cây này, mỗi khi mở cửa thấy đàn muỗi dầy đặc, ùa vào nhà, vây quanh người rất khó chịu, nay muỗi tự tản đi, không thấy quanh thềm, gần cửa nữa.
Cách đuổi muỗi tự nhiên này đã tránh không phải dùng bơm xịt muỗi (chứa hoá chất bốc hơi hắc, ít nhiều có độc hại) lại không mất công, tốn tiền mua thuốc.

Mong “Cây thuốc quý” phổ biến rộng cho bà con áp dụng, vừa có cây xanh, vừa để xua đuỏi muỗi, bảo vệ sức khoẻ cho mọi người.

Toa thuốc dùng ngũ gia bì chữa bách bệnh


Cây ngũ gia bì còn có tên gọi khác là cây chân chim, cây lằng, sâm nam, mạy tảng (tiếng Tày), co tan (Thái), xi tờ rốt (K ho), lông veng vuông (Ba Na).  Loại cây nhỏ, có thể cao 2-8m. Vỏ cây màu xám, cành nhỏ có lỗ bì. Lá kép hình chân vịt, mọc so le, có 6 – 8 lá chét, cuống lá dài 8-30cm, lá chét nguyên hình trứng, đầu nhọn hay hơi tù, dài 7 – 17cm, rộng 3 – 6cm.

Cuống lá chét giữa dài hơn. Cụm hoa chuỳ hoặc chùm tán. Hoa nhỏ màu trắng, số cánh hoa và nhị bằng nhau, thường là 5 cánh. Quả mọng hình cầu, khi chín có màu tím sẫm. Cây mọc hoang rải rác khắp nơi, thường mọc ở ven rừng, chân núi, sườn đồi, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Phú Thọ, Hoà Bình, Ninh Bình, Bắc Giang…





Bộ phận dùng, chế biến làm thuốc là vỏ, rễ. Rễ đào về rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu là rễ nhỏ, phơi hay sấy khô. Ngoài ra, còn dùng lá  cây làm thuốc. Lá ngũ gia bì rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô trị bệnh eczema.

Ngũ gia bì.

Theo y học cổ truyền, ngũ gia bì có vị đắng, chát, mùi thơm nhẹ, tính mát, có tác dụng làm ra mồ hôi, giải biểu. Trong dân gian, ngũ gia bì thường được sử dụng để chữa cảm sốt, họng sưng đau, thấp khớp, đau nhức xương khớp, vết thương sưng đau. Nhiều vùng người ta dùng lá tươi hoặc khô nấu canh ăn thay rau giúp tiêu hóa tốt hơn; rượu ngũ gia bì tăng lực, trừ phong thấp. Hiện nay, ngũ gia bì đã được sản xuất thành viên thuốc bổ (phối hợp với cao kim anh và vài loại khoáng vi lượng) chữa hạ đường huyết, suy nhược, kém ăn, thiếu máu…

Đơn thuốc chữa bệnh có sử dụng ngũ gia bì:

Chữa phong thấp đau nhức xương, giúp ăn ngủ ngon, tăng lực: Bột ngũ gia bì 100g ngâm trong 1.000ml rượu, hàng ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml. Cách làm rượu ngũ gia bì: Vỏ rễ ngũ gia bì cạo sạch lớp bẩn dính bên ngoài; Rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, xay tán thành bột. Cứ 100g bột ngũ gia bì cho 1 lít rượu gạo 45 độ, ngâm trong 10 ngày, lắc đều trước khi uống, uống mỗi lần 20ml trước mỗi bữa cơm trưa và chiều. Hoặc ngũ gia bì, mộc qua, tùng tiết, mỗi vị 120g, tán bột mịn, mỗi ngày uống 3 – 4g, ngày 2 lần.

Trị bệnh cước khí chân tay sưng đau: Vỏ rễ cây ngũ gia bì, lõi thông, hạt cau, củ gấu, tía tô, chỉ xác, ké đầu ngựa mỗi vị 8-16g, sắc uống 3 lần trong ngày, uống đến khi khỏi bệnh.

Chữa lở ngứa eczema: Lá ngũ gia bì, bạch chỉ, hy thiêm thảo (cây cỏ dĩ), rễ gấc, tỳ giải, thổ phục linh các vị bằng nhau: 20g. Sắc uống ngày một thang. Uống ngày 2 lần vào sáng và tối. Uống trong 7 ngày.

Chữa huyết áp thấp: Dùng viên ngũ gia bì, mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày là một liệu trình.

Người mệt mỏi, cảm sốt ra nhiều mồ hôi: Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy mỗi vị 40g, sao vàng tán nhỏ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g.

Chữa sổ mũi, đau họng: Rễ ngũ gia bì 15g, cúc hoa vàng (toàn cây) 35g sắc uống. Uống trong 3-5 ngày.

Lưu ý: Phụ nữ có thai không dùng được đơn thuốc có ngũ gia bì.


Ngũ gia bì chân chim thuốc trị đau khớp


Ngũ gia bì có 2 loại : Ngũ gia bì chân chim và ngũ gia bì nhiều gai.

Ngũ gia bì chân chim là loại tốt và rất thông dụng.

Tên khoa học Scheffera octophylla (Lour) Harms . Họ Araliaceae.

Trong dân gian, còn gọi là Sâm nam hay Nam sâm. Đây là một trong những loại cây kiểng thông dụng, đắt tiền. Ở những vùng ẩm thấp, người ta trồng cây ngũ gia bì trong vườn nhà , quanh nhà để vừa làm cây cảnh vừa có tác dụng trừ muỗi.

Theo YHHĐ , thành phần hóa học chính là Saponin, tanin, tinh dầu, vỏ thân chứa 0,9-1% tinh dầu; vỏ cành và vỏ rễ chứa Saponin triterpen khi thuỷ phân cho acid oleanic..

Bộ phận dùng: Vỏ thân, vỏ rễ, rễ và lá.

Theo YHCT, Ngũ gia bì chân chim có vị đắng, chát, hơi thơm, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, làm ra mồ hôi, kháng viêm, tiêu sưng và làm tan máu ứ. Dịch chiết vỏ cây có tác dụng tăng lực, kích thích thần kinh rõ rệt, chống lạnh, hạ đường huyết.

 

 

 

Ngũ gia bì chân chim  được dùng chữa đau nhức xương khớp, đau bụng, suy nhược … Trong Đông y, nó là một vị thuốc quý có tác dụng làm mạnh gân cốt, trừ phong, đau nhức xương khớp, đau bụng, trẻ em vận động cơ bắp yếu, hạn chế đi lại, chống suy nhược thần kinh, tăng trí nhớ, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt... Ngũ gia bì có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh mạn tính ở người cao tuổi, tăng sức đề kháng, bồi dưỡng sức khỏe, trị đau nhức khớp ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh. Nó có tác dụng tốt với bệnh nhân suy giảm chức năng gan, rối loạn nhẹ bilirubin máu toàn phần. Ngũ gia bì còn có tác dụng hạ đường máu ở những bệnh nhân đái tháo đường tụy, điều trị sau phẫu thuật.

Rượu ngũ gia bì: chữa đau nhức khớp xương, giúp ăn ngủ ngon.

Cách làm rượu ngũ gia bì: Ngũ gia bì cạo sạch lớp dơ dính bên ngoài vỏ; Rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, xay tán thành bột. Cứ 100g bột ngũ gia bì cho 1 lít rượu gạo 45độ. Ngâm trong 10 ngày, lắc đều trước khi uống, uống 1 ly nhỏ (Khoảng 10ml) trước mỗi bữa cơm chiều.

 

 

 

Không được dùng cho người có triệu chứng sau:

          -Người có triệu chứng âm hư hỏa vượng.

          -Phụ nữ có thai.

          -Người có huyết áp thấp

Vỏ thân và vỏ rễ dùng chữa:

-Sổ mũi, cảm cúm phát sốt, đau họng.

-Phong thấp đau nhức xương, té ngã tụ máu sưng đau, tê liệt hoặc gân xương co quắp.

-Phù thũng..

 

 

Rễ dùng làm thuốc bổ, thuốc mát, thông tiểu tiện.  

 

 

 

Lá dùng ngoài trị viêm da dị ứng, chàm, bỏng.

Cách dùng: Dùng vỏ thân 10-20g, vỏ rễ 6-12g dạng thuốc sắc. Rễ dùng pha hoặc sắc lấy nước uống, có thể phối hợp với các vị thuốc khác. Lá đun sôi lấy nước rửa, tắm.


Ngũ gia bì làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh còn có tên là Xuyên Gia bì, Thích gia bì, Nam gia bì là vỏ rễ phơi khô của cây Ngũ gia bì (Acanthopanax gracilistylus W. W Smith và Thích gia bì A.senticosus (Rupr et Maxim) Harms và nhiều loại Ngũ gia bì khác như :Ngũ gia cành ngắn (Acanthopanax sessiliforus (Rupr et Maxim) Seem; Hồng mao ngũ gia A.Leucorrhizus Harms.

Tính vị qui kinh:

Vị cay đắng, tính ôn, qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Sách Bản kinh: vị cay ôn.
Sách Lôi công bào chế dược tính giải: nhập 2 kinh Phế Thận.

Thành phần chủ yếu:

Có nhiều Glucosid. Từ rễ chiết xuất ra 5 loại glucosid Thích Ngũ gia A, B, C, D, E từ lá chiết xuất ra glucosid lá Ngũ gia I,K,M. Ngoài ra còn có 4-Methyl salicyladehyde, palmitic acid, linoleic acid, tanin, polysaccharid, vitamin A,B1, các nguyên tố vi lượng Zn, Cu, Mn.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Trừ phong thấp, cường gân cốt (mạnh gân xương), tiêu phù.

Chủ trị các chứng tý, đau phong thấp, lưng gối mõi yếu, phù thũng, tiểu tiện ít.

Trích đoạn Y văn cổ:

Sách Bản kinh: ” chủ tâm phúc sán khí, phúc thống, ích khí. Trị trẻ em không đi được, thư sang âm thực (ung nhọt lở lóet)”.
Sách Danh y biệt lục: ” trị nam tử dương nuy, âm nang lở chảy nước, tiểu khó, nữ nhân ngứa âm hộ, lưng đau, chân tay tê yếu, hư gầy, thuốc bổ trung ích tinh, mạnh gân xương, tăng trí nhớ”.
Sách Nhật hoa tử bản thảo: ” làm sáng mắt (minh mục), hạ khí, trị chứng trúng phong, khớp xương co cứng, bổ ngũ lao thất thương”.
Sách Bản thảo cương mục: ” trị phong thấp nuy tý, làm mạnh gân xương”.
Sách Bản thảo tái tân: ” hóa đàm trừ thấp, dưỡng thận ích tinh, trừ phong tiêu thủy, trị cước khí lưng đau, trị sang nhọt độc”.

B.Kết quả nghiên cứu theo dược lý hiện đại (vị Thích Ngũ gia bì):

Có tác dụng chống mệt mỏi tốt hơn Nhân sâm. Có tác dụng tăng sức chịu đựng đối với thiếu oxy, nhiệt độ cao, điều tiết nội tiết rối loạn, điều tiết hồng bạch cầu và huyết áp, chống phóng xạ, giải độc. Thuốc có tác dụng chống lão suy, tăng thể lực và trí lực, tăng chức năng tuyến sinh dục và quá trình đồng hóa, gia tăng quá trình chuyển hóa và xúc tiến tổ chức tái sinh.
Có tác dụng an thần rõ, điều tiết sự cân bằng giữa 2 quá trình ức chế và hưng phấn của trung khu thần kinh. Tác dụng hưng phấn của thuốc không làm ảnh hưởng giấc ngủ bình thường.
Có tác dụng tăng cường miễn dịch của cơ thể như tăng khả năng thực bào của hệ tế bào nội bì võng, tăng nhanh sự hình thành kháng thể, làm tăng trọng lượng của lách. Thuốc còn có tác dụng kháng
virus, kháng tế bào ung thư, điều chỉnh miễn dịch.
Thuốc có tác dụng kháng viêm, cả đối với viêm cấp và mạn tính.
Thuốc có tác dụng giãn mạch làm tăng lưu lượng máu động mạch vành và hạ huyết áp.
Thuốc có long đờm, cầm ho và làm giảm cơn ho suyễn.
Thuốc có tác dụng chống ung thư.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng đau thấp, đau nhức cơ khớp mình mẩy, mỏi mệt:

Rượu Ngũ gia bì: Ngũ gia bì sao vàng 100g, rượu trắng 30 độ 1 lít ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều, ngày uống một cốc con vào buổi tối trước bữa cơm chiều.
Ngũ gia bì, Mộc qua, Tùng tiết đều 120g, tán bột mịn, mỗi ngày uống 3 – 4g, ngày 2 lần trị đau khớp.

2.Trị cơ thể suy nhược, trẻ em chậm biết đi, đàn ông liệt dương:

Dùng rượu Ngũ gia bì (như trên).
Ngũ gia bì, Địa cốt bì mỗi thứ 40g tán bột mịn, gà con một con lấy thịt giã nát trộn với thuốc. Dùng trị gãy xương sau khi phục hồi vị trí, đắp thuốc ngoài, bó nẹp cố định, bỏ nẹp sau 1 tuần.
Ngũ gia bì, Mẫu đơn bì, Xích thược, Đương qui đều 40g tán bột mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, trị phụ nữ suy nhược cơ thể.

3.Trị đau thắt ngực, mỡ máu cao: dùng chất chiết xuất Thích Ngũ gia bì (Nam Ngũ gia bì chế thành thuốc nang “Quan tâm ninh” uống mỗi lần 3 nang, ngày 3 lần, liên tục trong 1 – 3 tháng. Trị 132 ca bệnh nhân đau thắt ngực, có kết quả 95,45%, cao huyết áp 53 ca có kết quả làm hạ cholesterol và triglycerit (Tờ Tin tức Trung y dược 1987,4:36).

4.Trị chứng bạch cầu giảm: dùng Thích Ngũ gia bì trị 43 ca Bạch cầu giảm do hóa liệu kết quả tốt hơn cả (Học báo Quảng tây Y học viện 1978,3:1). Dùng viên Ngũ gia bì trị 22 ca, 19 ca có kết quả ( Tạp chí Trung y Hồ bắc 1982,6:52).

5.Trị nhồi máu não: dùng dịch chích Ngũ gia bì 40ml cho vào dịch gluco 10% – 300ml truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, uống thêm thuốc thang, theo dõi 20 ca kết quả tốt (Học báo Trung y học viện Cam túc 1988,1:27).

6.Trị huyết áp thấp: dùng viên Ngũ gia bì mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày là một liệu trình có kết quả tốt (Báo cáo của Châu Long – tờ Nghiên cứu thuốc thành phẩm Trung quốc 1985,12:43).

Liều dùng và chú ý:

Liều: 5 – 10g.
Trên thị trường thuốc có rất nhiều loại Ngũ gia bì cho nên lúc dùng để điều trị và nghiên cứu phải hết sức thận trọng.href=”http://benhvathuoc.com/wp-content/uploads/2012/11/ngu-gia-bi-2.jpg”>





Ngũ gia bì (Acanthopanax aculeatus) còn gọi là xuyên gia bì, thích gia bì, là cây thân gỗ cao tới 2-3m. Cây có nhiều lá xum xuê, thân màu trắng ngà, vỏ dày. Người ta bóc lấy vỏ cây phơi khô được vị thuốc ngũ gia bì.

Theo Đông y, ngũ gia bì có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân cốt, tư bổ can thận, bổ tỳ dương, giảm đau nhức, tăng cường sức bền của cơ bắp, tiêu thũng, trục ứ, thông dương khí.

Một số bài thuốc ứng dụng

Bài 1: Các khớp sưng đau kéo dài, hạn chế vận động: Ngũ gia bì 16g, trinh nữ 16g, bưởi bung 16g, nam tục đoạn 20g, ngải diệp 16g, cát căn 16g, đổ nước 4 bát. Sắc còn 2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 2: Viêm tinh hoàn do biến chứng của quai bị: Ngũ gia bì 16g, lệ chi 16g, bạch linh 10g, bạch truật 12g, xa tiền 10g, đinh lăng 16g, quế 6g, trần bì 10g, đổ nước 4 bát. Sắc còn 2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 3: Nam giới bị yếu sinh lý: Ngũ gia bì 16g, thục địa 12g, khởi tử 12g, cẩu tích 12g, tần giao 10g, hạt sen 12g, thỏ ty tử 16g, nhục thung dung 10g, phòng sâm 16g, phá cố chỉ 10g, cam thảo 10g, đổ nước 1.800ml. Sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 4: Tỳ vị hư nhược, chân tay yếu mềm: Ngũ gia bì 16g, bạch truật 16g, biển đậu 16g, trần bì 10g, sinh khương 6g, táo tàu 5 quả, đinh lăng 16g, quy 16g, cao lương khương 10g, hoài sơn 12g, đổ nước 1.800ml. Sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 5: Chữa phù thận: Ngũ gia bì 16g, bạch truật 16g, bông mã đề 16g, hương nhu trắng 16g, đinh lăng 20g, quế 10g, bào khương 10g, cẩu tích 12g, ngải diệp 16g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng thuốc 7-8 ngày liền. Công dụng: bổ thổ ôn bổ tỳ thận, tiêu thũng, uống thang này bệnh nhân đi tiểu nhiều, hết phù.

Bài 6: Dày da bụng do thấp tỳ: Ngũ gia bì 16g, ngấy hương 16g, lá đắng 16g, đinh lăng 16g, trần bì 10g, ngải diệp 16g, bạch truật 16g, hoài sơn 16g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7: Thận dương suy tổn, nhức mỏi xương khớp: Ngũ gia bì 16g, thục địa 12g, cẩu tích 12g, khởi tử 12g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, đương quy 16g, xuyên khung 10g, hắc táo nhân 16g, liên nhục 12g, quế tốt 10g, cam thảo 11g, các vị thái nhỏ cho vào bình sành, đổ ngập nước để ngâm. Sau 15 ngày là dùng được, ngày uống 40-50ml, chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: bổ tâm thận, lưu thông khí huyết, tăng cường sinh lực.

Bài 8: Chữa chứng thống phong (các khớp sưng đau đột ngột, đi lại khó khăn, toàn thân mệt mỏi): Ngũ gia bì 16, bồ công anh 16g, trinh nữ 16g, rễ cỏ xước 20g, nam tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, cà gai leo 16g, tất bát 12g, cát căn 16g, đơn hoa 16g, quế 10g, kinh giới 16g, xương bồ 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 9: Đau thần kinh vai cổ do hàn thấp: Ngũ gia bì 16g, rễ cỏ xước 16g, thổ linh 16g, quế 10g, kiện 10g, tế tân 6g, tang ký sinh 16g, cố chỉ 10g, phòng phong 10g, kinh giới 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: trừ phong hàn, thông hoạt kinh lạc, giảm đau.

Bài 10: Sản phụ phù nề sau khi sinh: Ngũ gia bì 16g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, uất kim 12g, đinh lăng 20g, bạch truật 12g, ích mẫu 16g, quế 10g, đan sâm 16g, xa tiền 10g, trần bì 10g. Đổ nước 1.800ml, sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia 2 lần uống trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết tiêu ứ, bệnh nhân uống thang này sẽ hết phù.

 



Ngũ Gia Bì: Giống cây đuổi muỗi cho mọi nhà


Thật khó chịu khi bị muỗi đốt hay nghe tiếng muỗi vo ve bên tai. Không cần xịt thuốc mà muỗi vẫn chết? Thật đơn giản, ngay hôm nay bạn hãy thử trồng cây Ngũ gia bì chân chim - cây sẽ giúp bạn góp phần cải thiện môi sinh.

Cây Ngũ gia bì chân chim hay còn gọi là Chân chim, Sâm nam, cây Chân vịt, tên khoa học Schefflera octophylla Lour, họ ARALIACEAE. Trong Đông y dùng Vỏ cây phơi hoặc sấy khô là vị thuốc trong Đông y dùng chữa tê thấp, đau nhức xương. Dược điển Việt Nam năm 1983 đã ghi nhận điều này. Trong thực tế, những người sống ở vùng ẩm thấp thường trồng cây này trong vườn nhà, quanh tường vừa làm cây cảnh vừa có tác dụng trừ muỗi rất tiện lợi.

 

 

 

Loài cây đuổi muỗi

 

 

 

Theo Cơ quan nghiên cứu Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) thì cây Ngũ gia bì có khả năng chống ô nhiễm và khử được khí độc Formaldehyd trong nhà.Chúng tôi đã thử trồng nhiều chậu Ngũ gia bì chân chim và đặt gần thềm bậc cửa ra vào đã thấy đổi khác rõ rệt: trước đây chưa có cây này, mỗi khi mở cửa thấy đàn muỗi dầy đặc, ùa vào nhà, vây quanh người rất khó chịu, nay muỗi tự tản đi, không thấy quanh thềm, gần cửa nữa.

Cách đuổi muỗi tự nhiên này đã tránh không phải dùng bơm xịt muỗi (chứa hoá chất bốc hơi hắc, ít nhiều có độc hại) lại không mất công, tốn tiền mua thuốc. Mong “Cây thuốc quý” phổ biến rộng cho bà con áp dụng, vừa có cây xanh, vừa để xua đuỏi muỗi, bảo vệ sức khoẻ cho mọi người.


Ngũ gia bì làm thuốc


Ngũ gia bì có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh về nội khoa. Trong đông y, đây cũng là vị thuốc quý có tác dụng làm mạnh gân cốt, trừ phong, đau nhức xương khớp, đau bụng, trẻ em vận động cơ bắp yếu, hạn chế đi lại; có tác dụng tốt đến hệ thần kinh trung ương, chống suy nhược thần kinh, giúp tăng trí nhớ, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt...

Ngũ gia bì có hai loại: Ngũ gia bì chân chim và Ngũ gia bì nhiều gai. Cả hai đều là cây thuốc quí thuộc dạng họ nhân sâm Việt Nam.
Ngũ gia bì chân chim làm thuốc còn có tên khác: Sâm non, cây chân chim, kotan (Lào). Họ nhân sâm (Alariaceae).
Cây mọc nhiều ở các tỉnh phía bắc, miền trung và có nhiều ở dãy Nam Trường Sơn. Bộ phận dùng: Vỏ thân, vỏ rễ hay rễ nhỏ. Qua nghiên cứu cho thấy ngũ gia bì có những tác dụng tốt trong điều trị các bệnh về nội khoa.
Trong đông y, ngũ gia bì là một vị thuốc quý có tác dụng làm mạnh gân cốt, trừ phong, đau nhức xương khớp, đau bụng, trẻ em vận động cơ bắp yếu, hạn chế đi lại. Có tác dụng tốt đến hệ thần kinh trung ương, chống suy nhược thần kinh, giúp tăng trí nhớ, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt..

Ngũ gia bì chân chim và ngũ gia bì nhiều gai đã được dân gian dùng từ lâu, có tác dụng rất tốt trong điều trị các bệnh mạn tính ở người cao tuổi, tăng sức đề kháng, bồi dưỡng sức khỏe, trị đau nhức khớp ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh; Tác dụng tốt với bệnh nhân suy giảm chức năng gan, rối loạn men chuyển Transaminase cao cả hai chỉ số SGOT/SGPT, rối loạn nhẹ Bilirubin máu toàn phần. Nhưng lại cấm chỉ định với những bệnh nhân đường máu thấp.

Rượu ngũ gia bì:
chữa đau nhức khớp xương, giúp ăn ngủ ngon.

Cách làm rượu ngũ gia bì: Ngũ gia bì cạo sạch lớp bẩn dính bên ngoài vỏ; Rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, xay tán thành bột. Cứ 100g bột ngũ gia bì cho 1 lít rượu gạo 45O ngâm trong 10 ngày, lắc đều trước khi uống, uống 1 cốc con trước mỗi bữa cơm chiều.

Đơn thuốc có ngũ gia bì dùng cho phụ nữ


Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy mỗi vị 40g, sao vàng tán nhỏ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, rất tốt cho phụ nữ tuổi cao, người lao động nặng, mỏi mệt toàn thân, hơi thở ngắn (thường thở ra, xây sẩm mặt mày), cảm sốt ra nhiều mồ hôi, ăn uống kém, ngủ ít.


Ngũ gia bì còn có tác dụng hạ đường máu ở những bệnh nhân đái tháo đường tụy, điều trị sau phẫu thuật.


Ngũ gia bì chữa lở ngứa eczema


Cây ngũ gia bì còn có tên gọi khác là cây chân chim, cây lằng, sâm nam, mạy tảng (tiếng Tày), co tan (Thái), xi tờ rốt (K ho), lông veng vuông (Ba Na).  Loại cây nhỏ, có thể cao 2-8m. Vỏ cây màu xám, cành nhỏ có lỗ bì. Lá kép hình chân vịt, mọc so le, có 6 – 8 lá chét, cuống lá dài 8-30cm, lá chét nguyên hình trứng, đầu nhọn hay hơi tù, dài 7 – 17cm, rộng 3 – 6cm.

Cuống lá chét giữa dài hơn. Cụm hoa chuỳ hoặc chùm tán. Hoa nhỏ màu trắng, số cánh hoa và nhị bằng nhau, thường là 5 cánh. Quả mọng hình cầu, khi chín có màu tím sẫm. Cây mọc hoang rải rác khắp nơi, thường mọc ở ven rừng, chân núi, sườn đồi, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Phú Thọ, Hoà Bình, Ninh Bình, Bắc Giang…

Bộ phận dùng, chế biến làm thuốc là vỏ, rễ. Rễ đào về rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu là rễ nhỏ, phơi hay sấy khô. Ngoài ra, còn dùng lá  cây làm thuốc. Lá ngũ gia bì rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô trị bệnh eczema.

1249525892 93ngu gia bi Ngũ gia bì chữa lở ngứa eczema

Ngũ gia bì.

Theo y học cổ truyền, ngũ gia bì có vị đắng, chát, mùi thơm nhẹ, tính mát, có tác dụng làm ra mồ hôi, giải biểu. Trong dân gian, ngũ gia bì thường được sử dụng để chữa cảm sốt, họng sưng đau, thấp khớp, đau nhức xương khớp, vết thương sưng đau. Nhiều vùng người ta dùng lá tươi hoặc khô nấu canh ăn thay rau giúp tiêu hóa tốt hơn; rượu ngũ gia bì tăng lực, trừ phong thấp. Hiện nay, ngũ gia bì đã được sản xuất thành viên thuốc bổ (phối hợp với cao kim anh và vài loại khoáng vi lượng) chữa hạ đường huyết, suy nhược, kém ăn, thiếu máu…

Đơn thuốc chữa bệnh có sử dụng ngũ gia bì:

Chữa phong thấp đau nhức xương, giúp ăn ngủ ngon, tăng lực: Bột ngũ gia bì 100g ngâm trong 1.000ml rượu, hàng ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml. Cách làm rượu ngũ gia bì: Vỏ rễ ngũ gia bì cạo sạch lớp bẩn dính bên ngoài; Rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, xay tán thành bột. Cứ 100g bột ngũ gia bì cho 1 lít rượu gạo 45 độ, ngâm trong 10 ngày, lắc đều trước khi uống, uống mỗi lần 20ml trước mỗi bữa cơm trưa và chiều. Hoặc ngũ gia bì, mộc qua, tùng tiết, mỗi vị 120g, tán bột mịn, mỗi ngày uống 3 – 4g, ngày 2 lần.

Trị bệnh cước khí chân tay sưng đau: Vỏ rễ cây ngũ gia bì, lõi thông, hạt cau, củ gấu, tía tô, chỉ xác, ké đầu ngựa mỗi vị 8-16g, sắc uống 3 lần trong ngày, uống đến khi khỏi bệnh.

Chữa lở ngứa eczema: Lá ngũ gia bì, bạch chỉ, hy thiêm thảo (cây cỏ dĩ), rễ gấc, tỳ giải, thổ phục linh các vị bằng nhau: 20g. Sắc uống ngày một thang. Uống ngày 2 lần vào sáng và tối. Uống trong 7 ngày.

Chữa huyết áp thấp: Dùng viên ngũ gia bì, mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày là một liệu trình.

Người mệt mỏi, cảm sốt ra nhiều mồ hôi: Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy mỗi vị 40g, sao vàng tán nhỏ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g.

Chữa sổ mũi, đau họng: Rễ ngũ gia bì 15g, cúc hoa vàng (toàn cây) 35g sắc uống. Uống trong 3-5 ngày.

Lưu ý: Phụ nữ có thai không dùng được đơn thuốc có ngũ gia bì.




Tác dụng chữa bệnh của tỏi.
Tác dụng chữa bệnh của Atiso
Tác dụng chữa bệnh của bắp cải
Tác dụng chữa bệnh của hoa hồng
Tác dụng chữa bệnh của muối ăn
Tác dụng chữa bệnh của thạch anh


(st)

• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 11 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 11 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
1 Trả lời 18 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 10 click