Tác dụng chữa bệnh của quả đu đủ xanh

Khi mới bị sỏi thận, bệnh nhân thường rất khó phát hiện, nhất là khi viên sạn còn nhỏ nhưng đến khi kích thước viên sạn lớn lên hoặc khi bị biến chứng, suy thận bệnh nhân đau đớn thậm chí nằm bệnh viện chờ chết khi bị suy thận giai đoạn cuối. Chữa sỏi thận như thế nào? Có nhất thiết phải đi bệnh viện hay không? Dân gian ta có nhiều cách chữa mẹo bằng hoa quả rất hay. Như quả Đu đủ xanh dùng chữa bệnh sỏi thận khá hiệu quả.


 

 

Mẹo Chữa bệnh sỏi thận hiệu quả bằng quả Đu đủ xanh


Nhiều bệnh nhân khốn đốn vì sỏi thận. Yên tâm cây thuốc hiệu quả nhất đang ở trong vườn nhà bạn. Đó chính là cây đu đủ.

 

 

 

Tác dụng:

* Làm tan sạn thận, sạn mật * Trị sốt rét rừng, sốt kinh niên(chỉ 1 lần là khỏi) * Trị rắn độc cắn * Trị bệnh trường phong hạ huyết *Giúp nhuận tràng, tiêu tích trệ, lợi trung tiện, lợi tiểu * Trục giun * Trị di,mộng,hượt, tinh *Trị ho gà.


Khá nhiều người bị mắc chứng sạn thận hoặc sạn túi mật, có thứ sạn hạt tròn trơn, không làm cho đau đớn nhiều, loại sạn này có khi lớn gần bằng quả trứng. Nhưng sạn gai, giống như quả ké, gai nhọn đâm vào thịt, làm cho nước tiểu thấm vào vết thương sẽ đau khốn khổ. Nhiều người bị sạn thận, phải mổ đến 9-10 lần mà vận chưa hết sạn, vì chất calci ở ngay trong máu, nếu không trừ được tận gốc chất calcitrong máu thì gốc vẫn còn, mà gốc còn tất nhiên sẽ mọc ngọn trở lại. Nếu có mổ hay bắn tia phóng xạ thì chỉ là cắt được cái ngọn thôi. Phương pháp trị bệnh sán theo ngoại khoa, có nhiều cách khác nhau, nhưng cách trị bằng trái đu đủ xanh, rất dễ dàng và có kết quả tốt.

Lưu ý phụ nữ có thai không dùng cách này vì có thể gây hư thai.

CÁCH LÀM:

Trái đu dủ còn xanh, vừa đủ ăn cho 1 người, cắt đầu đuôi, khoét bỏ hột đi, giữ nguyên vỏ, bỏ chút muối vô trong, nấu cách thủy cho mềm, để nguội ăn hết cả vỏ, nếu là trái lớn có thể ăn ngày hôm sau (Nên tìm trái nhỏ ăn 1 ngày thì tốt hơn); ăn trong 1 tuần. Chỉ không đầy 10 ngày bệnh sẽ hết hoặc giảm rõ rệt.

Kinh nghiệm chữa sỏi thận bằng quả đu đủ
- Sau khi ăn lần thứ nhất trong vòng 10 ngày thì đi kiểm tra xem kích thước sạn còn bao nhiêu, nếu có giảm chứng tỏ có hiệu quả, cứ như vậy lặp lại 7 - 10 ngày ăn thì một lúc nào đó sạn sẻ hết. Chú ý cách nhật một thời gian khoảng một hai tháng trở lên thì hẵng lập lại cách ăn đó nhe.
- Người bệnh cần ăn uống nhiều rau, quả. Bửa ăn cần ăn nhiều canh. Uống nhiều(đủ nước theo qui định 2 lítt/ngày) trong ngày. Như vậy sẽ phòng ngừa được một phần bệnh này.
Chúc các bạn nhanh lành bệnh.
Bài viết này mình biên tập dựa trên kinh nghiệm và đã qua thực tế nhiều bạn đọc dùng thử khen ngợi về tính hiệu quả và đang rất quan tâm. Xin các bạn đọc kỹ trước khi hỏi thêm về bài thuốc nhe.


Đu đủ xanh trị sỏi thận


 

 

Nhiều bệnh nhân khốn đốn vì sỏi thận, chạy đông, chạy tây không hết, thế mà cây thuốc hiệu quả nhất đang ở trong vườn nhà mình mà không biết! Đó là trái Đu đủ xanh.

 

 

Đu đủ (Carica papaya L.) là cây ăn trái phổ biến ở nước ta.

 

Cây cao 2 - 10 m, thân mềm, mang nhiều thẹo, lá to; mủ trắng mau đặc. Cuống bộng; phiến xẻ chân vịt, to 60 - 80 cm. Tạp phái; phát hoa đực là chùm tụ tán dài thòng, ít gặp; hoa cái trên gié ngắn, như cô độc; lá đài 5, xanh, dính nhau ở đáy; cánh hoa 5; trắng to; tiểu nhụy 10 ở hoa đực; nuốm có nhiều tua. Phì quả to, dài 20 - 30 cm, nạt vàng hay cam, thai tòa trắc mô mang nhiều hột đen.

Trồng nhiều nơi, gốc vùng nhiệt đới châu Mỹ; ra trái quanh năm.

Mủ chứa papainase làm tan protein (làm mềm thịt, giúp tiêu hóa; ướp thịt, cá 20 phút trước khi nấu, ăn không còn gây dị ứng).

Lá, thân, vỏ trái xanh chứa heterosid sinh HCN độc nhưng nấu chín thì bay mất nên không độc. Hột chứa carpain, đắng, có tác động giống vừa digitalin vừa emetin, làm bớt sự co rút của tim, hạ huyết áp, mà không có tác động khác không tốt; dùng trợ tim và lợi tiểu. Carpain còn có tính trừ amíp, sán lãi; hột non có tính giảm thụ vì tác động làm giảm sự cử động của tinh trùng, không chui vào trứng được: chỉ chống thụ thai khi dùng, ngưng thì sẽ thụ thai trở lại; chống vi khuẩn Koch, vi khuẩn gram dương và gram âm, rất mạnh chống Staphyllococcus aureus, E. coli, Bacillus cereus và Bacillus mycoides (do một protein). Thử nghiệm in vitro ở chuột, cho thấy hột Đu đủ chống ung thư bạch huyết L 1210, P 388; làm giãn nở tử cung.

Mủ trái non trị nám da do nắng (thoa mỗi ngày). Vỏ thân trị vàng da, chống sự đông đặc của máu (như heparin) và chống phá máu (antihemolytic). Ở nhiều nơi, dùng mủ hay trái xanh thoa vú trị nứt nẻ. Thân, hay trái xắt lát phơi khô dùng như trà cho lợi sữa. Thân và lá chứa benzilisotiocianat chống u bướu. Đu đủ hạ huyết áp, lá Đu đủ (chứa carpain, colin, oxitocic có lẽ do colin) cho ra acetilotin tác động vào cơ trơn. Khi bị ngập lụt, cây Đu đủ bị chết, ta có thể chặt cây, gọt bỏ vỏ, chẻ dọc làm tư rồi xắt lát, ngâm nước muối loãng một đêm rồi vớt ra để ráo (phơi 1 nắng) rồi cho vào hũ, thêm nước có 15% muối, đun sôi đổ vào hũ vừa ngập, đậy kín, để chỗ mát, 15 ngày sau là dùng được. Ăn như dưa, cà muối.

Nạc trái, hột chứa glucotraepolin. Hột nghiền uống trị lãi (trẻ con mấy tuổi thì dùng mấy hột).

(Theo Phạm Hoàng Hộ, Ayensu, Fortin, Jain & al., As. J. Pharm. 1972, Ch. Abs. 1983, PM 1981, 94).

Trái Đu đủ chưa chín nấu canh ăn rất ngon, bổ và có tác dụng:

* Làm tan sạn thận, sỏi mật.

* Trị sốt rét rừng, sốt kinh niên.

* Trị rắn độc cắn.

* Trị bệnh trường phong hạ huyết.

* Giúp nhuận tràng, tiêu tích trệ, lợi trung tiện, lợi tiểu.

* Trục giun.

* Trị di, mộng tinh, hượt tinh.

* Trị ho gà.

Cách dùng

Khá nhiều người bị mắc chứng sạn thận hoặc sạn túi mật, có thứ sạn hạt tròn trơn, không làm cho đau đớn nhiều, loại sạn này có khi lớn gần bằng hột mít, hay hơn. Nhưng sạn gai, giống như trái Ké, gai nhọn đâm vào thịt, làm cho nước tiểu thấm vào vết thương sẽ đau khốn khổ. Nhiều người bị sạn thận, phải mổ nhiều lần mà vẫn chưa hết sạn, vì chất calci ở ngay trong máu, vì một lý do nào đó, nếu không trừ được tận gốc chất calci trong máu thì gốc vẫn còn, mà gốc còn tất nhiên sẽ mọc ngọn trở lại. Nếu có mổ hay bắn tia siêu âm thì chỉ là cắt được cái ngọn thôi. Phương pháp trị bệnh sạn bằng thuốc, có nhiều cách khác nhau, nhưng cách trị bằng trái Đu đủ xanh, rất dễ dàng và có kết quả tốt.

Trước hết đi siêu âm hoặc chụp X-quang để biết bị sỏi gì?

Rồi dùng trái Đu dủ còn xanh (trái già - chưa chín), vừa đủ ăn cho 1 người, cắt đầu đuôi, khoét bỏ hột đi, giữ nguyên vỏ, bỏ chút muối vô trong, nấu cách thủy cho mềm, để nguội ăn hết cả vỏ, nếu là trái lớn có thể để tủ lạnh, ăn ngày hôm sau (nên tìm trái nhỏ ăn 1 ngày thì tốt hơn); ăn trong 1 tuần. Chỉ không đầy 10 ngày bệnh sẽ hết sỏi. Thỉnh thoảng nên ăn thêm 1 - 2 lần hoặc ăn canh Đu đủ xanh cũng tốt. Phụ nữ mang thai tránh dùng.

Sau 1 - 2 tháng có thể kiểm chứng, bằng cách đi siêu âm lại và bày cho người khác dùng. Người bị sỏi cần uống nhiều nước hàng ngày và tránh những thức ăn uống quá giàu calci.


Dùng đu đủ trong chữa bệnh nội-ngoại khoa và bồi dưỡng cơ thể

Đu đủ còn có tên; Phan qua thụ, lô hong phlê (CPC), mắc hung (lào), cà lào, phiên mộc.

 

 

Tên khoa học: Carica papaya L. Họ đu đủ papayaceae

 

 

 

 

 

Đu đủ chín chứa khoảng 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều carotenoit; axit hữu cơ; vitamin A, B, C, Protit; 0,9% chất béo, xenlulôzơ (0,5%); can xi (35mg); photpho (32mg); ma giê, sắt, thiamin, riboflavin. Thành phần bay hơi là các cacbua monoterpen, các dẫn xuất furanic của linalol, isothiocyanat benzyl, các glucozit thơm và glucotropeolin.

 

 

 

 

 

Đu đủ xanh, ngoài các chất có trên còn có chứa 4% chất nhựa mủ latex màu trắng đục là hơn hợp của nhiều proteaza (loại men tiêu hoá chất đạm ) trong đó chất chủ yếu là papain, một cây đu đủ trong một năm cho khoảng 100g nhựa mủ. Lấy nhựa khi quả còn non trên cây.

 

 

 

 

 

Ngoài ra còn có chymopapain và papaya protenaza. Để lấy nhựa mủ (papain thô) dùng dao bén sắt rạch dọc quả đu đủ xanh, cho mủ chảy vào bát hứng, sau đớ phơi nắng hoặc sấy khô ở 40-600C. Tinh chế papain bằng cách hoà tan papain thô vào nước thành dung dịch, sau đó rót vào cồn 90 độ, papain kết tủa, lọc, sấy.

 

 

 

 

 

Lá đu đủ chứa ancaloit carpain, có tác dựng giống glucozit của dương đại hoàng - Digitalis còn có tác dụng làm chậm nhịp tim, diệt amit. Hạt đu đủ có glucozit caricin và myrysin.

 

 

 

Tác dụng được lý:

Men papain có tác dụng như men pepcin của dạ dày giống men trypsin của tuyến tuỵ trong tiêu hoá các chất thịt nó làm một vi trùng gam dương, gam âm chậm phát triển những vi trùng như staphjllococ, vi trùng thương hàn rất nhạy cảm đối với tác dụng của papain.  Papain còn có tác dụng làm đông sữa và tác dụng lâm giảm độc đối với toxin và toxanpunin: 18mg papain trong dung dịch 2%o trung tính được 10mg gricin là chất độc trong hạc thầu dầu (bằng 10 liều độc của grisin) 2mg papain trung tlnh được 4 liều độc của toxin uốn ván và 10 liều độc của toxin yết hầu. Papain còn trung tính được độ độc của ancaloit như 12,5 papain trung tính được một liều độc strychnin bằng 2,5 mg.

 

 

Bộ phận dùng lâm thuốc của đu đủ trong nhân dân và trong tân dược, gồm có: Rễ, lá, hoa, hạt và nhựa. Với nhựa papain thô và papain tinh chế. Nó được sử dụng thay thế pepsin và pancreatin trong điều tri rối loạn tiêu hoá do thiếu men tiêu hoá giúp tiêu hoá tốt chất đạm trong thức ăn. .

 

 

 

 

 

Nhựa và hạt đu đủ còn là thuốc tẩy giun tốt cho nhiều loạn giun, trừ giun móc ( ankylostome). Đặc biệt có chất cacpain làm chậm nhịp tim, như một digitalin. Hạt đu đủ còn có tính kháng khuẩn mạnh, dùng ngoài để làm sạch vết thương bẩn nhiễm trùng, dùng chế môi trường nuôi cấy và thuần nhất đờm.

 

 

 

 

 

Cần lưu ý: Tác dụng ngừa thai, sẩy thai của papain do hoạt tính của nó đối với progesteron của thai phụ.

 

 

 

Công dụng và liều dùng:

 

 

Quả đu đủ xanh nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay để chữa các vết tàn hương ở mặt và tay còn dùng chữa chai chân, và bệnh eczema...

 

 

 

 

 

Đu đủ còn dùng trong kỷ nghệ chế bia, thực phẩm... lá đu đủ dùng để gói những thịt gà cứng để khi nấu chóng mềm... Rễ đu đủ sắt uống cầm máu trong bệnh băng huyết, bệnh sỏi thận... Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường phèn dùng chữa bệnh ho viêm cuốn phổi khàn tiếng hoặc mất tiếng với người lớn. Với trẻ em hái 5 -10 hoa đực sao vàng cho đường phèn hập hoặc chưng trong khi nồi cơm cạn nước cho trẻ uống trong ngày.

 

 

 

Đu đủ chín coi là một món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hoá các chất thịt, các chất lòng trắng trứng, trong hầm các loại thịt, xương cứng người ta thường dùng cho quả đu đủ xanh vào làm cho các thức ăn mau nhừ, nhuyễn, trong món ăn nộm rau nộm, đậu phụng, mè đen... Trong lọ mắm nục cá cơm tươi rói ở ven biển Miền Trung không thể không có đu đủ đỏ hồng ăn dòn, là dịch vị mồi ngon miệng trong bữa cơm đạm bạc ngon lành của người dân lao động, chưa nói đến các đa sinh tố có lòng đỏ trứng gà, đu đủ, cà chua chín, mãng cầu xim... những chất tạo “hồng cầu” rất rẽ tiền ấy.



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 

 

Đu đủ có thể coi là "thần dược", bởi nhiều bộ phận của cây đu đủ không những được dùng làm thức ăn mà còn được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh, như bệnh tim, chứng mất ngủ, hay hồi hộp, đau lưng mỏi gối, viêm dạ dày mãn tính...

Nếu bạn bị chứng ít ngủ, hay hồi hộp, hãy lấy đu đủ chín, chuối, củ cà rốt mỗi thứ 100 g; xay trong nước dừa non nạo. Thêm mật ong cho đủ ngọt, uống cách ngày.

Trong 100 g đu đủ có 74-80 mg vitamin C và 500-1.250 IU caroten. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm.

Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Do có nhiều sinh tố C và caroten nên đu đủ có tác dụng chống oxy hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Người ta còn dùng nhiều bộ phận của cây đu đủ để làm thức ăn và làm thuốc. Đu đủ xanh hầm với mọi loại thịt động vật đều làm cho thịt mềm. Ở nước ta, bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ thường ăn chân giò hầm với đu đủ xanh để có nhiều sữa.

Dân gian dùng hạt đu đủ đực chữa hen phế quản bằng cách chưng hoặc hấp cơm cho trẻ uống. Có công trình nghiên cứu còn cho rằng hạt đu đủ có thể chữa bệnh tim...

Ở Ấn Độ, Srilanka và Mailaysia, người ta dùng lá, hạt và quả đu đủ xanh để phá thai. Các công trình nghiên cứu cho thấy tác dụng ngừa thai có được là do chất nhựa papain, có nhiều trong quả xanh, lá, hạt đu đủ. Quả đu đủ đã chín ít nhựa thì không còn tác dụng đó nữa.

Gần đây, một số nhà khoa học cho rằng, tác dụng trên là do nhựa đu đủ đã phá hủy progesterol là trợ thai tố. Khi vào cơ thể, tác dụng của nhựa sẽ tăng mạnh 25 lần so với khi ở ngoài.

Một số bài thuốc:

- Chữa gai cột sống: Hạt đu đủ đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh, giã nát trong túi vải rồi đắp lên vùng đau. Mỗi lần chỉ đắp tối đa 30 phút và theo dõi để tránh bị bỏng. Ngày làm một lần, liên tục trong 20-30 ngày.

- Trị giun kim: Ăn đu đủ chín vào buổi sáng lúc đói, liên tục 3-5 hôm.

- Viêm dạ dày mãn tính: Đu đủ, táo tây, mía mỗi thứ 30 g sắc uống.

- Ho do phế hư: Đu đủ 100 g, đường phèn 20 g hầm ăn.

- Tỳ vị hư nhược (ăn không tiêu, táo bón): Đu đủ 30 g, khoai mài 15 g, sơn tra 6 g, nấu cháo.

- Đau lưng mỏi gối: Đu đủ 30 g, ngưu tất 15 g, kỷ tử 10 g, cam thảo 3 g sắc uống

 



Những tác dụng với sức khỏe của trẻ của quả đu đủ

 

Đu đủ là loại quả rất bổ dưỡng, xuất hiện nhiều ở vùng khí hậu nhiệt đới. Với một nguồn dồi dào các chất chống oxy hóa và các vitamin, khoáng chất khác nhau, đu đủ có tác dụng tích cự đối với sức khỏe của trẻ.

Đu đủ cũng chứa một loại enzyme phân giải các protein gọi là papain, hỗ trợ hệ tiêu hóa và chuyển protein trong cơ thể thành axit amin. Tiêu hóa kém, bệnh celiac hay các loại bệnh đường ruột khác trẻ em và người lớn gặp phải đều có thể được papain giải quyết. Tuy nhiên, bạn nên nắm rõ công dụng của đu đủ (chứa thành phần chất papain) để tránh trường hợp dùng cho trẻ bị xơ nang hay các bệnh khác.

Những tác dụng với sức khỏe của trẻ của quả đu đủ - Mẹ và Bé - Chăm sóc bé - Dinh dưỡng cho bé - Dinh dưỡng và sức khỏe

Đu đủ - loại quả giàu vitamin và dưỡng chất

Loại trái cây có mùi ngọt nhẹ và hương thơm độc đáo chứa thành phần các chất chống oxy hóa như carotenoid, flavonoid, nguồn vitamin A, B9, C, E và K cũng như magie, kali, chất xơ không hòa tan. Tương tự với dứa, đu đủ chứa các enzyme tự nhiên với thành phần chính là papain hỗ trợ tiêu hóa protein, hữu ích trị chứng ợ nóng, táo bón, cảm giác ăn không ngon miệng, tiêu chảy, ngăn ngừa loét dạ dày, giảm đau và đẩy nhanh quá trình chữa lành vết thương, vết bầm tím…Như vậy, đu đủ rất tốt cho cơ thể từ bên trong đến bên ngoài. Giữ thói quen ăn đu đủ sau bữa ăn giúp thúc đẩy hệ tiêu hóa hiệu quả.

Thành phần Papain được tìm thấy nhiều hơn trong nhựa trái đu đủ còn xanh. Người Mỹ chủ yếu ưa chuộng trái cây chín, đu đủ xanh được ưa dùng tại các vùng Đông Nam Á và khu vực các nước nhiệt đới. Bạn nên cho trẻ thử trước với quả đu đủ chín, hay kết hợp trong các loại nước ép, sinh tố. Papain kết hợp với các enzyme trong thực vật khác như bromelain hoặc kết hợp với thành phần các loại kem bôi bên ngoài. Trẻ em không nên dùng với liều lượng quá nhiều và bạn cần kiểm tra thành phần nhãn mác cẩn thận tránh trường hợp dị ứng.

Đu đủ chứa nhiều chất dinh dưỡng và nguồn khoáng chất dồi dào, tuy nhiên, nếu con bạn đang gặp phải chứng bệnh xơ hóa nang, các bệnh liên quan đến ruột già, trẻ em rối loạn tiêu hóa và hấp thụ kém hay đang dùng thuốc chứa enzyme proteolytic ( làm loãng máu).

Bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ và cân nhắc kĩ trước khi bổ sung đu đủ vào thực đơn hàng ngày cho mọi thành viên trong gia đình.

Liệu ăn đu đủ xanh có gây sảy thai?


 
 
 
 

Hầu như chị em khi đi xây dựng gia đình các bà mẹ thường truyền lại cho con một số kiến thức trong cuộc sống và không quên dặn dò những điều nên làm và không nên làm. Điều mà hầu như chị em nào cũng được dặn dò là không nên ăn đu đủ xanh. Tại sao lại vậy nhỉ? Hãy cùng Amthuc365.vn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé!

 

Bất kỳ một người phụ nữ nông dân Việt Nam nào đến tuổi lấy chồng cũng đều được thế hệ đi trước dặn dò là đừng ăn đu đủ xanh (non). Bài viết này nhằm tổng quan những kiến thức y học hiện đại về vấn đề trên.

Sinh học quả đu đủ

Đu đủ là một loại trái cây nhiệt đới, được trồng nhiều ở các nước Nam Mỹ, châu Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á. Nói đến cây và trái đu đủ thì mọi người Việt Nam ai cũng hình dung được. Trái đu đủ gắn liền với đời sống người dân Việt Nam từ thuở ấu thơ, trái chín để ăn, trái xanh để làm gỏi đu đủ, nấu canh; trẻ con dùng cọng (cuống lá) đu đủ làm súng đồ chơi, tánlá đu đủ làm dù che.

Về mặt dinh dưỡng đu đủ là loại trái cây có đủ chất sắt (Fe) và calcium, khá giàu vitamin A, B, G và rất giàu vitamin C. Tuy là một loại trái cây có giá trị dinh dưỡng, nhưng theo kinh nghiệm dân gian đu đủ được xếp vào nhóm thức ăn tự nhiên “không lành” với sản phụ.

Tác dụng của đu đủ

Ở Trung Mỹ, trong dân gian, người ta sử dụng đu đủ để điều trị bệnh lỵamip (Entamoeba histolytica), một loại ký sinh trùng gây tiêu chảy dạng lỵ và biến chứng áp xe gan. Ở Samoa, người dân dùng phần dưới vỏ thân cây đu đủ để chữa chứng nhức răng. Nhựa đu đủ có chứa papain là một trong hai loại men tiêu hủy protein (proteolytic enzym) có tác dụng làm mềm thịt bắp. Chính tác dụng này mà người ta dùng đu đủ hầm chung với thịt, thịt sẽ mềm hơn. Người dân vùng Caribê, Trung Mỹ bảo rằng họ có thể ăn một khẩu phần với một số lượng lớn thịt cá mà vẫn không hề gì nếu ăn đu đủ xanh sau đó. Phần cơm của đu đủ là thành phần chính của các loại mỹ phẩm như kem nền (mặt), kem đánh răng, dầu gội đầu.

Các ứng dụng quan trọng trong y học của nhựa đu đủ là chiết xuất papain để dùng trong phẫu thuật cột sống (là một loại “dao phẫu thuật tự nhiên” để mở đĩa đệm). Nghiên cứu còn cho thấy chiết xuất papain còn có hoạt tính kháng sinh (antibiotic activity) có tác dụng chống vi khuẩn gram dương (gram-positive bacteria). Nó còn được dùng để điều trị lở loét, làm tiêu giả mạc trong bệnh bạch hầu, chống kết dính sau phẫu thuật, thuốc giúp tiêu hóa. Trong công nghiệp papain được dùng để tinh chế bia, xử lý len và lụa trước khi nhuộm, là phụ gia trong công nghệ chế biến cao su; khi tinh chế dầu gan cá tuna, người ta tiêm papain vào gan trước khi chiết xuất, làm cho thành phẩm giàu vitamin A và D hơn. Khoảng 1.500 trái đu đủ xanh cỡ vừa cho được khoảng 650 gram papain.

Tác hại được cho là nguy hiểm nhất của đu đủ, mà hầu như kinh nghiệm truyền thống của nhiều nước đã đúc kết, đó là mối liên quan giữa đu đủ xanh với sinh sản và thai nghén.

Đã từ lâu đời người Ấn Độ đã sử dụng đu đủ xanh (non) cũng như hạt đu đủ để tránh thai, không những ở phụ nữ mà còn ở cả nam giới. Hàng hàng thế hệ phụ nữ châu Phi, Á và Mỹ đã sử dụng đu đủ như một loại thuốc tránh thai, trong ngày quan hệ tình dục người phụ nữ thường ăn đu đủ vì cho rằng nó có thể ngừa đậu thai.

Ở Ấn Độ có khá nhiều các nghiên cứu về thái độ và thực hành (attitude andbehaviour) ăn uống trong thai nghén, khi phỏng vấn các đối tượng, đu đủ là thành phần được nhắc đến nhiều nhất. Một nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trên 1.106 phụ nữ có thai và cho con bú ở 44 làng vào những năm 70.72% cho biết họ tin rằng đu đủ là thức ăn “nóng”, có hại cho thai nghén. Các nghiên cứu khác tương tự trên số đông phụ nữ (từ 500 đến 1.200), khi phỏng vấn họ cho rằng đu đủ có tác động gây sẩy thai và trong một nghiên cứu cho thấy 35% số người mẹ tránh không ăn đu đủ trong kỳ thai nghén. Ở Ấn Độ, muốn gây sẩy thai, người ta cho ăn đu đủ non hoặc dùng rễ cây đu đủ nghiền nát, thêm ít muối và cho uống.

Bằng chứng khoa học về mối liên quan giữa đu đủ với sinh sản và thai nghén

Đứng về mặt bằng chứng khoa học, loại bằng chứng trực tiếp không thể thực hiện được đối với loại các chất nghi ngờ là có hại cho con người, do đó chỉ có thể nghiên cứu được những bằng chứng gián tiếp. Những bằng chứng gián tiếp này có thể là in vitro (nghiên cứu phòng thí nghiệm) hoặc invivo (nghiên cứu trên sinh vật, cụ thể ở đây là động vật thực nghiệm). Nếu các kết quả ủng hộ giả thuyết thì chúng ta có thể suy luận chất nghi ngờ đó có thể có tác động lên cơ thể con người. Cũng có thể tìm mối tương quan này trên con người bằng nghiên cứu quan sát (observation), định hướng (prospective) hoặc hồi cứu (retrospective), loại nghiên cứu có đối chứng (case-control).

Trong những năm qua có hàng trăm bài báo khoa học viết về tác dụng y học của cây đu đủ trên nhiều mặt được ấn hành, trong số đó có nhiều bài liên quan đến tác động của đu đủ lên sinh sản và thai nghén. Những nghiên cứu này hầu hết là những nghiên cứu tiến hành trên động vật thực nghiệm và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Các kết quả được tóm tắt như sau:

Tác dụng tránh thai của trái đu đủ

Một điều ngạc nhiên là trái đu đủ có thể có tác dụng phòng tránh thai không chỉ trên phụ nữ mà còn cả trên nam giới.

Năm 1993, một nhóm khoa học gia Anh Quốc thuộc Viện đại học Sussex tìm thấy papain có tác dụng làm ngăn cản quá trình thụ thai ở phụ nữ. Qua kết quả nghiên cứu họ đưa ra hai thuyết về tác dụng ngừa thai của trái đu đủ: chất papain trong đu đủ có tác dụng ức chế hormon (nội tiết tố) progesteron và làm ngăn cản quá trình thụ thai, thứ hai là chính tác dụng làm mềm thịt của papain này có thể phá hủy màng tế bào phôi thai. Phụ nữ ở Sri Lanka muốn tránh thai, chỉ đơn giản là họ ăn đu đủ hàng ngày và khi muốn đậu thai thì chỉ việc dừng ăn đu đủ!

Trong kinh nghiệm dân gian ở một số nước châu Á cho thấy, không chỉ ở phụ nữ, mà nam giới nếu ăn đu đủ một thời gian dài cũng có khả năng tránh thai. Các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm cũng cho các kết quả lý thú. Hạt đu đủ đã được chứng minh là có hiệu quả tránh thai trên nam giới. Nghiên cứu thực nghiệm trên chuột và thỏ cho thấy các thành phần chiết xuất từ chloroform có trong hạt đu đủ có tác dụng tránh thụ thai có thể phục hồi được (reversible) trên chuột và thỏ đực mà không có độc tính. Thử nghiệm trên các chất chiết xuất từ hạt đu đủ cho thấy chúng có khả năng ức chế sự di chuyển của tinh trùng trên chuột và giảm sinh tinh trùng trên thỏ. Nghiên cứu gần đây nhất tiến hành theo cùng cách thức với các thí nghiệm trên, trên loài khỉ langur cho thấy hiệu quả làm giảm sinh tinh trùng xuất hiện sau điều trị 90 ngày mà không có tác dụng độc tính. Chức năng sinh tinh trùng được phục hồi hoàn toàn sau khi ngưng dùng thuốc 150 ngày. Về cơ chế hoạt động của các chất chiết xuất từ hạt đu đủ này vẫn còn chưa nhất quán. Các nghiên cứu trước cho thấy có lẽ các tác động này là do tương tác của các hoạt chất lên nguồn estrogen, androgen và antiandrogen. Tuy nhiên trong nghiên cứu sau này trên loài khỉ nêu trên, cho thấy số lượng tế bào tinh trùng bất thường đếm được tăng lên và cũng như bị bất động hoàn toàn ngay trong giai đoạn đầu điều trị và như thế khả năng tác động có thể vào môi trường bên trong của thừng tinh hoặc vào trong giai đoạn tế bào mầm (germcell) của tinh trùng trong tinh hoàn. Nghiên cứu sâu hơn nữa trên cùng một nghiên cứu, các tác giả quan sát thấy tổn thương xảy ra ở tế bào sertolli (một tế bào sinh tinh) và tình trạng giảm thiểu tinh trùng có thể là do tác động chọn lọc của thuốc lên sự phát triển của tế bào mầm, có lẽ qua trung gian là các tế bào sertolli, gây nên tình trạng ức chế hoạt động của các ty lạp thể (mitochondri), mà có thể ảnh hưởng đến chuỗi hô hấp tế bào gây độc tế bào trong quá trình tăng sinh tế bào mầm. Đây là một kết quả quan trọng cho việc hứa hẹn một loại thuốc tránh thai tạm thời cho nam giới ra đời.

Tác dụng lên thai nghén của đu đủ

Như đã nêu trên, nhiều người ở các nước châu Á cho rằng đu đủ non có khả năng gây sẩy thai.

Trong một nghiên cứu trên chuột ở Ấn Độ, người ta cho chuột đang mang thai ăn (không ép buộc) các loại trái cây khác nhau, thì kết quả cho thấy trái đu đủ non có tác dụng ngăn cản chu kỳ động dục và gây sẩy thai. Mức độ sẩy thai giảm xuống khi cho chuột ăn loại trái đu đủ chín.

Một nghiên cứu khác về sau, nghiên cứu về tác dụng trên trương lực tử cung, người ta đã thử nghiệm chất chiết xuất từ nhựa đu đủ (papaya latexextract - PLE) trên tử cung chuột ở các chu kỳ động dục và thai nghén khác nhau. Kết quả cho thấy tác động của PLE gây co thắt tử cung xảy ra mạnh nhất là ở các giai đoạn sau của thai kỳ, tương ứng với kỳ estrogen đạt được nồng độ cao nhất. Nghiên cứu này cũng rút ra được tác động gây co thắt tử cung của PLE là một tác động phối hợp của các enzym, alkaloid, và các chất khác, hoạt động chủ yếu vào quần thể thụ thể (receptor) alpha adrenergic của tử cung ở các giai đoạn khác nhau. Một nghiên cứu mới gần đây nhất cũng trên chuột, loài Sprague-Dawley ở 4giai đoạn thai nghén khác nhau, nhóm chứng chỉ dùng nước. Kết quả cho thấy nếu sử dụng nước trái đu đủ chín, thì các nhóm nghiên cứu không có khác biệt gì với nhóm chứng về ảnh hưởng co thắt cơ trơn tử cung được biệt lập từ chuột có thai và không có thai. Ngược lại, với nhựa đu đủ sống sử dụng ở nồng độ 0.1 - 3.2mg/ml thì gây ra hiện tượng co thắt cơ tử cung giống như hiện tượng co thắt của oxytocin (một loại thuốc gâyco thắt tử cung, dùng trong sản khoa) ở nồng độ 1 - 64mU/ml và prostaglandin F (2a) 0.028  -1.81 microm. Đối với cơ trơn tử cung biệt lập thì đáp ứng co thắt cơxảy ra đối với nhựa đu đủ sống (PLE) ở nồng độ 0.2mg/ml tương đương với 0.23 microM prostaglandin F (2a) và 32mU oxytocin/ml. Trên chuột có thai 18 - 19 ngày thì có PLE hiện tượng co thắt như uốn ván. Như vậy từ kết quả của nghiên cứu này có thể rút ra rằng nếu ăn đu đủ chín ở mức độ bình thường thì không gây hại gì trên chuột có thai, nhưng ngược lại với loại đu đủ sống hoặc gần chín - loại còn chứa nhiều nhựa - có thể không an toàn cho thai nghén.

Tóm lại, những niềm tin và thực hành sử dụng trái đu đủ của người dân các nước châu Á từ lâu đã là một quan sát thực nghiệm, cho đến những năm gần đây câu chuyện chỉ là sự bổ sung cho thực nghiệm đó bằng cách tìm hiểu cơ chế hoạt động của đu đủ trên sinh sản và thai nghén mà thôi. Ngoài những ứng dụng như đã nêu trên, đu đủ xanh có thể được xem như là có tác dụng phòng tránh thai tạm thời trên nữ giới, đặc biệt là trên nam giới, các nghiên cứu đang đi đến giai đoạn sau cùng trước khi đưa ra áp dụng rộng rãi. Trong khi đó, trên thực nghiệm ở động vật, nhựa đu đủ xanh cũng đã được chứng minh là không an toàn cho thai nghén và có khả năng gây sẩy thai, thì đối với cơ thể con người chúng ta, nên tránh sử dụng đu đủ xanh, đu đủ gần chín trong thời kỳ mang thai.


Công dụng chữa bệnh của quả đu đủ

 


 

 

 

 

 

 

Ngay từ khi phát hiện ra châu Mỹ, nhà thám hiểm lừng danh Christophe Columbus đã tôn vinh đu đủ là “chúa tể” của các loài quả (fruit of the angels) bởi nó có hương vị thơm ngon, dễ ăn và có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Một trong những hợp chất hàng đầu của đu đủ là papain, đây là loại enzyme có lợi cho hệ thống tiêu hóa của con người, hạn chế virus, vi khuẩn gây bệnh.

 

 

 

Tác dụng bảo vệ tim mạch

Theo rất nhiều nghiên cứu đu đủ có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa bệnh tim mạch ở những người mắc bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch, vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A. Các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có tên là paraoxonase, hay còn gọi là enzyme, có thể ức chế quá trình oxy hóa tạo ra các cholesterol xấu (LDL). Ngoài ra, đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol), riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino cần thiết như cysteine hoặc methionine. Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.

 

 

 

Tăng cường sức khỏe cho hệ tiêu hóa

Từ lâu, khoa học đã nghiên cứu và phát hiện thấy ăn đu đủ có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư kết tràng. Chất xơ có trong đu đủ có thể “thu gom” các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: folate, vitamin C, beta-carotene, vitamin E có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng, đặc biệt là ngăn ngừa sự tấn công của các gốc tự do gây tổn thương ADN. Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.

 

 

 

Thuốc chống viêm nhiễm

 

 

 

Trong đu đủ có chứa 2 hợp chất quan trọng có tên là papain và chymopapain, đây là 2 loại enzyme tiêu hóa protein hiệu quả, có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương. Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.

 

 

 

Tăng cường sức đề kháng

Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai...

 

 

 

Ngăn ngừa nguy cơ thoái hóa điểm vàng

Trên tạp chí Nhãn khoa (AOO) của Hoa Kỳ số ra đầu năm 2009, đã khuyến cáo người ta nên ăn 3 suất rau xanh hoa quả mỗi ngày (mỗi suất tương đương 1 bát nhỏ), sẽ giảm được nhiều nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng có liên quan đến tuổi tác (AMRD). Cụ thể làm giảm được tới 36% nguy cơ so với những người chỉ ăn 1 - 1,5 suất. Loại hoa quả tốt nhất có thể ngăn ngừa bệnh ARMD bao gồm: cà rốt, đu đủ vì đây là loại quả có chứa nhiều vitamin C, A, E, carotenoid, chất chống oxy hóa. Có thể chế biến đu đủ dưới dạng xa lát, nước ép hoặc ăn trực tiếp.

 

 

 

Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp

Mặc dù sử dụng liều cao vitamin C có thể làm tăng nguy cơ bệnh loãng xương nhưng vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết luận trên được dựa theo nghiên cứu với hơn 20.000 người sử dụng vitamin C có trong đu đủ và phát hiện thấy có tác dụng rất cao trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm gây đau nhức ở người bệnh.

 

 

 

Tăng cường chức năng phổi

Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ. Nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Kansas (Hoa Kỳ) cho thấy, đây là dưỡng chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh viêm nhiễm phổi và bệnh khí phế thũng (enphysema) do hợp chất carcinogen trong khói thuốc lá và benzopyrene trong khói thuốc lá gây ra, nó làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin A ở con người, nhất là ở nhóm người cao tuổi.



Tác dụng chữa bệnh của cây mật nhân
Tác dụng chữa bệnh của khổ qua
Tác dụng chữa bệnh của cây ớt
Tác dụng chữa bệnh của quả dâu tây
Tác dụng chữa bệnh của quả kha tử


(st)




• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.
An_nick Để phòng ngừa sỏi thận bạn có thể áp dụng chế độ ăn uống như sau: Uống nhiều nước, Cho nước chanh hay giấm táo vào đồ uống hàng ngày. Ăn thực phẩm giàu canxi Nghe có vẻ nghịch lý, vì mọi người luôn có suy nghĩ: can xi là tác nhân gây ra bệnh sỏi thận. Thật ra, quan điểm cho rằng thực phẩm chứa nhiều canxi có thể gây ra bệnh sỏi thận là một sai lầm. Trên thực tế, các loại thực phẩm có hàm lượng canxi tự nhiên cao rất có ích trong việc ngăn ngừa bệnh sỏi thận. Bổ sung thêm magiê xitrat và các vitamin nhóm B mỗi ngày: như bơ, bông cải xanh, ca cao, các loạt đậu, chuối… và sử dụng thuốc cung cấp magiê theo chỉ định của bác sĩ điều trị. Không sử dụng soda. Chọn những khẩu phần ăn chứa ít oxalat. Cần loại bỏ những thực phẩm chứa nhiều oxalat như trà xanh, gạo, ngũ cốc, một số loại quả hạch và rau xanh như cải bó xôi… ra khỏi khẩu phần ăn hàng ngày
Câu trả lời được gửi + 1 ngày trước
vu Khong uong thuoc ngua thai khong su dung bao cao su thi chi co cach di pha thai la hieu qua nhat
Câu trả lời được gửi + 1 ngày trước
3
nguyen thi ngoc tu hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
0 Trả lời 69 click

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 14 giờ trước
0 Trả lời 3 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 14 giờ trước
0 Trả lời 3 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 15 giờ trước
0 Trả lời 4 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 15 giờ trước
0 Trả lời 4 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 17 giờ trước
0 Trả lời 2 click