Công dụng của la hán quả

Quả La Hán có tên khoa học: Momordica grosvenor Swingle, thuộc họ Bầu bí: Cucurbitaceae. Hiện tại cây La Hán chưa phát hiện ở Việt Nam, đây là loài cây đặc sản của vùng Quế Lâm thuộc Quảng Tây - Trung Quốc. Quả La Hán có tác dụng chữa sốt, dịu cổ họng, long đờm, chữa ho, dùng cho mọi người.

 

http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2009/10/27/qua-la-han.JPG

 

 

Chúng có tỷ lệ đường cao, gấp 300 lần so với mía, dễ hoà tan trong nước và dung dịch cồn, có tính ổn định tốt, không bị phân huỷ ở nhiệt độ 160 độ C trong thời gian dài, không lên men, có thể được sử dụng rộng rãi cho: (1) chất làm dịu thực phẩm và đồ uống; (2) các sản phẩm thiên nhiên chăm sóc sức khoẻ, thuốc, phụ gia cho mỹ phẩm.

Glucozit ngọt từ quả La Hán có hiệu quả chữa bệnh, nâng cao chức năng hoạt động của dạ dày, giảm nóng, ẩm phổi, làm mất cảm giác khát, giảm đờm và chống virut. Như vậy, Glucozit ngọt từ quả La Hán, với đặc tính ngọt cao và không nóng, sử dụng an toàn và có chức năng chăm sóc sức khoẻ, có thể uống quanh năm

 

LA HÁN QUẢ
- Tên và nguồn gốc -
+ Tên thuốc: La hán quả (Xuất xứ: Lĩnh Nam thái dược lục).
+ Tên khác: Lạp hãn quả (拉汗果), Giả khổ qua (假苦瓜).
+ Tên Trung văn: 罗汉果 LUOHANGUO
+ Tên Anh văn: Grosvener Siraitia, Fruit of Grosvenor Momordica,Grosvenor Momordica
+ Tên La tinh:
Siraitia grosuenorii (Swingle)C. Jeffrey ex Lu et Z. Y. Zhang [Monordica grosuenorii Swingle]
+ Nguồn gốc: Là quả của La hán quả thực vật họ Quả bầu (Bottle gourd).

- Thu hoạch -
Giữa tháng 9 ~ 10 thu hái lúc quả chín, để trên mặt đất, khiến nó chín sau, khỏan 8 ~ 10 ngày vỏ quả từ xanh chuyển sang vàng, dùng lửa sấy khô, qua 5 ~ 6 ngày, thành quả khô gõ có tiếng, sau đó tẩy xạch lông, gói giấy, đóng thùng.

- Phân bố -
Phần nhiều là nuôi trồng, Quảng Tây nuôi trồng lượng rất lớn.

- Dược liệu -
Quả khô, hình tròn đến hình tròn dài, đường kính 5 ~ 8 cm bề ngòai màu nâu vàng sẫm đến sắc nâu sẫm, khá bóng láng, còn sót lại chút ít lông nhung, số ít có sọc dọc màu khá sẫm. Chóp phình to, giữa có vết gốc trụ hoa hình tròn, phấn đáy hơi hẹp, có vết cuống quả. Chất giòn dễ vỡ, sau khi vỡ mặt trong có sắc trắng vàng, dạng xốp nhẹ. Bỏ đi vỏ quả bên trong có thể thấy rõ 10 sợi vân dọc sống lưng. Hạt bẹt, hình tròn chử nhật hoặc tựa hình tròn, sắc nâu, rìa hơi dày, giữa hơi lõm, trong có 2 lá mầm, vị ngọt. Dùng thứ hình tròn, quả lớn, cứng chắc, lắc không kêu, màu nâu vàng là tốt.

- Bào chế -
Quả sấy khô, để sẳn dùng.

- Tính vị -
- Lĩnh Nam thái dược lục: Vị ngọt.
- Quảng Tây Trung dược chí: Vị ngọt, tính mát, không độc.

- Qui kinh -
- Quảng Tây Trung dược chí: Vào 2 kinh Phế, Tỳ.

- Công dụng và chủ trị -
Thanh Phế nhuận trường.
Trị ho gà, đàm hỏa ho, huyết táo đại tiện bí.
- Lĩnh Nam thái dược lục: Trị đàm hỏa ho, nấu canh với thịt nạt lợn uống vậy.
- Quảng Tây Trung dược chí: Ngừng ho thanh nhiệt, lương huyết nhuận trường. Trị ho huyết táo Vị nhiệt đại tiện bí v.v….

- Cách dùng và liều dùng -
Uống trong: Sắc uống, 3 ~ 5 chỉ.

- Kiêng kỵ -
Người Tỳ Vị hư hàn kỵ dùng.

- Thành phần hoá học -
Hàm chứa nhiều glucose v.v…(Trùng dươc đại từ điển)

- Bài thuốc cổ kim tham khảo -
+ Phương 1:  
Trị ho gà: La hán quả 1 trái, bánh quả hồng 5 chỉ. Sắc nước uống.
(Phúc Kiến)

Theo Từ điển thuốc đông y thực dụng - Trần Hoàng Bảo biên dịch

Như vậy nếu em bị Tỳ vị hư hàn, hay đi lỏng lạnh bụng thì không nên dùng.

 

Để thay thế cho đường mía (sucrose) không thích hợp cho người bị bệnh tiểu đường, một số chất tạo vị ngọt tổng hợp (như aspartame, saccharin, sucralose) hay trích từ cây Cỏ ngọt (Stevia rebaudiana)… đã được sử dụng, nhưng chất ngọt từ La hán quả, vị ngọt cho người tiểu đường có lẽ ít được người chú ý đến… Thế nhưng…

 

La hán quả là quả của cây Siraitia grosvernori, tên cũ là Momordica grosvernori hay Thladiantha grosvenori, thuộc họ Bầu bí (Cucurbitacea).

 

Tên “La hán quả” được giải thích là do những truyền thuyết từ Trung Quốc: từ thời nhà Đường, Quế Lâm là một trung tâm của Phật giáo, có rất nhiều ngôi chùa. Các tu sĩ Phật giáo được cho là đã dùng quả của cây này làm thực phẩm thường ngày nên đã giúp cơ thể dẻo dai, chống bệnh và trường thọ cùng sự luyện tập võ nghệ để phòng thân. Tên La hán quả cũng còn liên hệ đến những môn võ nghệ nổi tiếng như “Thập bát La hán quyền”, “Thập bát La hán trận” của chùa Thiếu Lâm…

 

Đặc tính thực vật

 

Chi Siraitia còn có thêm 4 loài khác: Siraitia siamensis phân bố tại Thái Lan, Siraitia sikkimensis và Siraitia silomaradjea tại Ấn Độ, Siraitia taiwaniana tại Đài Loan, cũng được gọi là La hán quả.

 

La hán quả thuộc loại dây leo, lưỡng niên, rụng lá theo mùa, có thể dài từ 3 - 5 m, mọc phủ lên các cây khác bằng tua cuốn. Lá hẹp, hình trái tim, đầu nhọn dài 10 - 20 cm, rộng 3,5 - 12 cm. Hoa mọc thành chùm 2 - 3 hoa, hay 1 hoa, cuống hoa 3 - 5 cm. Cánh hoa mỏng, màu vàng nhạt. Quả hình cầu, đường kính 5 - 7 cm, màu xanh lục sẽ chuyển sang nâu khi khô. Thịt quả mọng nước, có vị ngọt và mùi thơm, trong chứa nhiều hột cỡ hột Khổ qua, dài chừng 15 - 18 mm, ngang 10 - 12 mm.

 

Cây mọc hoang và được trồng tại vùng Tây Nam Trung Quốc, phần lớn tại Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Châu, Hồ Nam… đa số thành phẩm thương mãi là từ vùng cao nguyên Quế Lâm.

 

Các tài liệu ghi chép từ 1813 cho thấy cây đã được trồng tại tỉnh Quảng Tây. Hiện nay tại vùng cao nguyên Quế Lâm có những đồn điền trồng La hán quả rộng trên 16 km2, cung cấp mỗi năm trên 10 ngàn quả. Thành phố Long Giang (Longjiang) được xem là “Nhà của quả La hán” và đa số các hãng dược phẩm sản xuất các thành phẩm từ La hán chọn thành phố này làm nơi đặt trụ sở.

 

(Tại Việt Nam, có một loài tương cận: Momordica tonkinensis hay Thladiantha tonkinensis gọi là cây Khố áo, mọc tại miền Bắc, quả chưa được nghiên cứu nhiều).

 

Thành phần hóa học

 

Quả chứa:
- Các đường hữu cơ như fructose, glucose...
- Các terpen glycosid gọi chung là mogrosid, trong đó một số chất đã xác định được công thức như siomenosid I, neo mogrosid, mogrosid từ 1 đến 6 (mogrosid 5 chiếm từ 0,81 đến 1,29%), iso-mogrosid-5, oxo-mogrosid-5.
- Các 28-norcucurbitacins như siraitic acid A, B, C, D và E.
- Hợp chất protein monogrosvin có hoạt tính gây ngưng hoạt động của các ribosome. (Life Science Số 68-2001).
- Chất ngọt từ quả La hán: mogrosid

 

 

Quả La hán được thu hoạch lúc còn xanh và chuyển sang màu đen sau khi được phơi khô. Vị ngọt của quả là do một nhóm glycosid loại terpen, gọi chung là mogrosid, chiếm khoảng 1% phần thịt của quả, tính theo trọng lượng. Cả quả khô lẫn quả tươi đều được dùng để chiết, và cho một chất bột có thể chứa ít nhất là 80% mogrosid. Các mogrosid đã được phân biệt và định danh từ 1 đến 5, chất chính là mogrosid-5 (trước đây được gọi là esgosid). Một số hợp chất tương tự trong quả La hán được gọi là siamenosid, neomogrosid...

 

Hỗn hợp mogrosid trong quả La hán cho vị ngọt cao hơn đường mía khoảng 300 lần (tính theo trọng lượng), như thế bột chiết 80% sẽ ngọt hơn đường mía gấp 250 lần. Trong khi đó mogrosid nguyên chất có thể ngọt gấp 400 lần đường mía. Iso-mogrosid-5 ngọt hơn đường khoảng 500 lần.

 

Năm 1995, Công ty P&G (Procter and Gamble) đã cầu chứng một bằng sáng chế để chế tạo một chất ngọt từ quả La hán. Theo các mô tả trong bằng sáng chế thì quả La hán, tự bản chất, tuy ngọt nhưng còn có kèm thêm khá nhiều vị khác nên không thể dùng trực tiếp làm chất tạo vị ngọt, và Công ty P&G đã phát minh ra một phương pháp chế biến để loại các vị không cần thiết.

 

Mặt khác quả La hán rất ít khi được sử dụng dưới dạng quả tươi do các khó khăn trong việc tồn trữ, đồng thời vị của quả tươi cũng không hấp dẫn lắm, khi lên men còn tạo thêm các vị lạ và chất pectin trong quả lại chuyển sang dạng nhớt. Do đó quả thường phải phơi khô và đây là dạng được bán tại các tiệm thuốc bắc. Quả La hán được sấy khô trên chảo, giữ được quả lâu hơn và loại được một số hợp chất bốc hơi, nhưng lại tạo ra các vị đắng và chát. Các vị này giới hạn việc dùng quả trực tiếp và bột trích từ quả, nếu muốn dùng trong trà hay trong cháo thường phải kèm theo với đường mía hay mật ong.

 

Trong phương thức chế biến của P&G, quả La hán được thu hái trước khi chín hẳn và được tồn trữ đến giai đoạn “chín vừa đủ”, sau đó loại bỏ hạt và vỏ, rồi nghiền nát để lấy nước cốt hay khối nhão và dùng các dung môi để loại các tạp chất và những mùi vị không cần đến... Hiện nay trên thị trường có bán một số sản phẩm tạo vị ngọt từ mogrosid.

 

Mogrosid-5 tinh chế đã chính thức được phép dùng tại Nhật để làm chất tạo vị ngọt. Các glycosid loại cucurbitan từ quả La hán đã được đánh giá về độ ngọt bằng cách dùng các thử nghiệm điện - tâm lý và phản ứng nhận định, thử trên bọ gerbil. Bọ được huấn luyện để biết tránh ăn chất ngọt từ đường mía và kết quả ghi nhận là mogrosid-5 có tác dụng kích thích các thụ thể vị giác gây các phản ứng thuận lợi của bọ, chấp nhận vị ngọt của mogrosid (Journal of Natural Products Sô 53-1990).

 

 

Các hoạt tính dược lực của glycosid trong quả La hán

 

Ngoài vai trò dùng làm chất tạo vị ngọt, các glycosid trích từ quả La hán còn có một số dược tính khác như:

 

Làm hạ đường trong máu: thử nghiệm trên chuột, chất trích thô từ quả và các glycosid loại triterpen của quả có khả năng ức chế sự gia tăng độ glucose trong máu sau khi ăn, tác dụng xảy ra rất nhanh: chỉ cần cho chuột dùng các chất này 3 phút trước khi cho ăn maltose. Hiệu ứng được giải thích là do ức chế men maltase (Journal of Agricultural and Food Chemistry Số 53-2005). Trong một thử nghiệm khác, mogrosid được so sánh với một thuốc đặc chế Tiêu khát hoàn (XiaoKeWan), thường dùng để trị tiểu đường tại Trung Quốc. Kết quả ghi nhận, mogrosid có khả năng giúp hạ đường huyết, hạ lipid nơi chuột bị gây bệnh bằng alloxan (Nutrition Research Số 28-2008).

 

Hoạt tính chống oxy hóa: chất trích từ quả La hán và các glycosid như mogrosid-4, mogrosid-5, 11-oxo-mogrosid-5, siamenosid... ức chế được các tiến trình gây oxy hóa loại do đồng làm trung gian, loại oxy hóa lipoprotein có phân tử lượng thấp… các phản ứng chống oxy hóa này tùy thuộc lượng sử dụng. 11-oxo-mogrosid được xem là có hoạt tính mạnh nhất. Cũng trong thử nghiệm in vivo này, các khả năng thu nhặt các gốc tự do của trích tinh quả và mogrosid được ghi nhận là yếu hơn vitamin E (International Journal of Food Science and Nutrition Số 58-2007).

 

Khả năng chống ung thư: các thử nghiệm trên thú vật ghi nhận các glycosid loại cucurbitan trích từ quả La hán có thể có một số hoạt tính ngừa ung thư.

 

Dịch chiết bằng alcol từ quả có hoạt tính ức chế sự khởi hoạt của siêu vi Epstein-barr, mạnh hơn hoạt tính của beta-caroten (Cancer Letter Số 198-2003). Khi cho chuột bị gây ung thư da, dùng mogrosid-5 hay 11-oxo-mogrosid-5, trong 10 - 15 ngày liên tục, các tiến trình ung thư chậm lại, số bướu papilloma cũng giảm hạ (so với chuột đối chứng). Khi thử trên chuột bị gây ung thư bằng peroxynitrit, các đáp ứng cũng xảy ra tương tự (Pure Applied Chemistry Số 74-2002).

 

Hoạt tính chống dị ứng, kháng histamin: khi cho chuột dùng chất trích từ quả liều duy nhất 300 mg/kg, chuột bị gây dị ứng không còn phản ứng ngứa gãi da, liều 1.000 mg/kg làm mất phản ứng gãi mũi… Các liều dùng mỗi ngày 300 mg và 1.000 mg lặp lại sau 2 đến 4 tuần cho thấy các hiệu ứng chống histamin được tích lũy dần dần… (Biology and Pharmacy Bulletin Số 28-2005).

 

Các phương thức sử dụng và thành phẩm từ quả La hán

 

Dược học cổ truyền Trung Quốc không ghi chép gì về vị thuốc La hán quả, có lẽ do ở sự kiện kém phổ biến của quả, chỉ tập trung tại vài địa phương giới hạn ở phía đông nam Trung Quốc. La hán quả chỉ trở thành phổ biến vào đầu thế kỷ 20. Dược điển Trung Quốc in 1995 thì có ghi: La hán quả (Luohanguo) là quả phơi khô của dây Momordica grosvenori có tính giải nhiệt, mát phổi và tư giãn đại tràng. Dùng trị ho khan, viêm họng, viêm thanh quản do nhiệt phổi và táo bón.

 

Những tài liệu đầu tiên về La hán quả bằng Anh ngữ được công bố vào năm 1938, ghi nhận La hán quả được dùng làm một thành phần trong các loại “nước mát” giúp trị các triệu chứng “nóng nhiệt” trong người, và nấu hầm trong các món cháo với thịt heo nạc để trị các chứng nhiệt phổi và ho…

 

La hán quả được đưa vào Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 20. Bộ canh nông Hoa Kỳ ghi nhận sự có mặt của quả La hán vào năm 1917 và các nghiên cứu về chất ngọt từ quả La hán chỉ được bắt đầu từ 1975 từ các bài viết của C.H. Lee và của Tsunematsu Takemoto…

 

Trong tập sách “Fruits as Medicine”, trang 104 các tác giả Dai Yin-Fang và Liu Cheng-Jun đã ghi lại các phương thức sử dụng trong dân gian như sau:

 

Trị “cảm nóng” và khát: lấy 1 quả La hán, bổ đôi, quậy đều trong nước sôi. Uống thay trà.
Viêm cổ họng cấp tính hay kinh niên, mất tiếng: lấy nửa quả La hán và 3 - 5 quả Lười ươi (Sterculia lychnophora Hance). Nấu vừa đủ với nước, và ngậm nuốt từ từ.

 

Ho kinh niên: nấu chín La hán quả với nước vừa đủ, uống mỗi ngày 2 lần.

 

Táo bón nơi người cao niên: dùng 2 quả La hán, lấy phần thịt và hạt, nấu chín từ từ và uống trước khi đi ngủ. Buổi tối nên ăn 1 muỗng canh dầu mè (chan vào cơm).

 

Tiểu đường và dùng thay cho đường: uống nước nấu La hán quả hay thêm vào thức ăn khi cần đến đường.

 

Trên thị trường “thuốc bắc” có nhiều thành phẩm chế tạo từ quả La hán như:

 

+ Luo Han Guo Chong Ji, trích tinh từ quả, cô đặc thành khối, thường dùng làm thuốc ho, khan tiếng; hoặc pha thành nước giải khát.
+ La hán quả dùng chung với Bạch quả trị ho.
+ La hán quả chung với Cúc hoa trị “nóng nhiệt”, nhức đầu...
 

Quả hình tròn hay hình tròn dài có đường kính 5 – 8cm, bề ngoài vỏ màu nâu vàng sẫm hoặc sắc nâu sẫm và bóng láng, trên vỏ cũng còn sót lại chút ít lông nhung và số ít có sọc dọc màu khá sẫm. Chóp phình to, giữa có vết gốc trụ hoa hình tròn, phần đáy hơi hẹp có vết cuống quả, chất giòn dễ vỡ, mặt trong quả có sắc trắng vàng, dạng xốp nhẹ, bóc bỏ vỏ ngoài thì bên trong thấy rõ 10 sợi vân dọc sống lưng. Hạt bẹt hình tròn chữ nhật hoặc tựa hình tròn, sắc nâu, rìa hơi dày, giữa hơi lõm, trong có 2 lá mầm, vị ngọt. Khi sử dụng làm thuốc nên chọn quả lớn tròn, cứng chắc, lắc không kêu, vỏ có màu nâu vàng mới là loại tốt.

Đông y cho rằng quả la hán vị ngọt, tính mát, không độc đi vào hai kinh phế và đại trường (sách Quảng Tây Trung dược chí nói quy kinh phế và tỳ). Có công năng nhuận phế, lợi hầu, hóa đàm chỉ khát, nhuận tràng thông tiện. Do đó được sử dụng để trị ho phế nhiệt và đàm hỏa nội kết, viêm hầu họng, đại tiện bí kết (trị đàm hỏa ho, ho gà, huyết táo)... Cụ thể được sử dụng trong viêm long đường hô hấp trên như hầu họng, viêm amidan... thuộc thể nhiệt độc uẩn kết, trị viêm phế quản cấp hay mạn, thuộc thể nhiệt đàm úng phế hay chứng táo bón kinh niên thuộc thể tân khuy tràng táo tức thể dịch thiếu, ruột khô...

Ngoài ra còn thấy nước sắc của quả la hán có tác dụng trấn khái (chống ho), khử đàm (trừ đờm) rõ ràng và lại còn có khả năng làm tăng cường chức năng miễn dịch của các tế bào của cơ thể. Trà la hán còn là thứ giải khát giàu dinh dưỡng, rất thích hợp với người bị nóng trong mà đông y gọi là “thể tạng uất hỏa nội kết”.

Đặc biệt hơn là quả la hán có chứa một số hợp chất có độ ngọt gấp hàng trăm lần đường mía, nhưng không phải là đường nên còn là thức ăn lý tưởng cho những bệnh nhân béo phì hay tiểu đường.

Liều sử dụng trung bình hằng ngày dưới dạng sắc, hãm hay hấp uống là từ 15 – 30g. Lưu ý nếu là ho do phế hàn có ngoại cảm thì không dùng độc vị mà cần phối hợp cùng các vị khác, người tỳ vị hư hàn không dùng vì quả la hán tính mát thích hợp với chứng ho đàm hỏa.

trà quả la hán

 

 

Trà la hán dùng thường xuyên rất tốt cho sức khỏe. Ảnh: internet

Để tham khảo và ứng dụng, xin giới thiệu những phương trị liệu tiêu biểu có la hán.

Chữa viêm họng: Lấy quả la hán thái hãm với nước sôi, uống thay nước trong ngày.

Chữa chứng viêm thanh quản (mất tiếng): La hán 1 quả, thái miếng sắc lấy nước uống 2-3 lần trong ngày hoặc uống dần mỗi lần một ít.

Chữa ho gà: La hán 1 quả, hồng khô 25g, sắc lấy nước uống; hoặc la hán 1 quả, phổi heo bóp hết bọt 40g, hầm  nhừ, nêm gia vị ăn.

Chữa ho đờm vàng quánh: la hán 20g, tang bạch bì 12g, sắc lấy nước uống trong ngày.

Bổ phế (hỗ trợ trong trị lao): La hán 60g, thịt nạc heo 100g, hai thứ thái lát cho hầm cùng, nêm gia vị đủ, ăn cùng cơm.

 

Công dụng:

         -  Tốt cho người hút thuốc vì quả la hán có tính chất nhuận phế (người hút thuốc thường bị khô phổi).  Uống đều đặn tốt cho phổi, từ đó giúp da mịn màng.
         -  Trị ho, ho gà, long đờm, hen suyễn,
         -  Chữa viêm họng, viêm amidan, mất tiếng
         -  Nhuận tràng, chữa táo báo kinh niên
         -  Trà la hán là thứ nước giải khát giàu dinh dưỡng, rất thích hợp với những người thể tạng “uất hỏa nội kết” (nóng trong).
         -  Quả la hán có chứa một số hợp chất có độ ngọt lớn gấp ba trăm lần đường mía, nhưng không phải là đường nên không gây béo, phù hợp đối với những người mắc bệnh đái tháo đường, hay bị béo phì.
         - Quả la hán không độc, an toàn, uống được quanh năm, già trẻ lớn bé, bà bầu đều uống được, đang uống thuốc tây cũng có thể uống được. Có thể uống như một loại nước giải khát thông thường, không giới hạn lượng dùng hàng ngày.
         -  La Hán dùng rất tốt cho người mắc bệnh phổi họng, ho hen, huyết áp cao, tiểu đường

Chú ý:

         -  Quả la hán không chữa mất ngủ

         -  Người có tỳ vị hư, hàn (bao tử yếu, hay đầy bụng, khó tiêu) không nên uống

Cách sử dụng:

        -  Pha nước uống: Bẻ quả la hán làm đôi hoặc ba rồi cho vào nồi đun nước uống. Không cần bỏ vỏ. Có thể uống nóng hoặc để nguội.

        -  Qua la hán cũng có thể sắc với các vị khác như trần bì, hồng khô, mật ong hoặc hầm với thịt.

Bảo quản và lựa chọn:

        -   Quả la hán phơi hay sấy khô rồi cất giữ dùng dần, rất đơn giản và thuận tiện.

        -   Nên chọn quả to, tròn, cứng chắc, lắc không kêu, vỏ có màu nâu vàng.

Thông tin thêm:

Quả la hán được thu hái vào tháng 9 – 10 hằng năm, phơi hay sấy khô cất dùng dần. Quả hình tròn hay hình tròn dài có đường kính 5 – 8cm, bề ngoài vỏ màu nâu vàng sẫm hoặc sắc nâu sẫm và bóng láng, trên vỏ cũng còn sót lại chút ít lông nhung và số ít có sọc dọc màu khá sẫm. Chóp phình to, giữa có vết gốc trụ hoa hình tròn, phần đáy hơi hẹp có vết cuống quả, chất giòn dễ vỡ, mặt trong quả có sắc trắng vàng, dạng xốp nhẹ, bóc bỏ vỏ ngoài thì bên trong thấy rõ 10 sợi vân dọc sống lưng. Hạt bẹt hình tròn chữ nhật hoặc tựa hình tròn, sắc nâu, rìa hơi dày, giữa hơi lõm, trong có 2 lá mầm, vị ngọt

 

Theo Đông y, cây Bung Lai có tác dụng trị cảm lạnh, đau đầu, trướng bụng, tiêu hoá kém, tiêu chảy, viêm gan… Quả La hán có tác dụng nhuận phế lợi hầu, hóa đàm chỉ khái, nhuận tràng thông tiện, có tác dụng hữu hiệu trong chữa trị các bệnh liên quan đến đường hô hấp.

Để tốt cho gan và đường tiêu hoá, hàng ngày, bạn có thể dùng 15-30g Bung lai khô đun sôi và dùng nước uống thay trà. Để trị giun sán cho trẻ, bạn chỉ cần lấy lá Bung lai đem hơ sấy trên than rồi sắc lấy nước cho trẻ uống. Không chỉ có tác dụng trị những bệnh trên, cây Bung lai còn được dùng để thanh giải chứng sưng thũng vàng da, giải độc rắn cắn, trị sốt, thương hàn, chữa bệnh eczema và ghẻ ngứa.

Cùng với cây Bung lai thì quả La hán cũng là một trong những vị thuốc quí trong Đông Y. Với vị ngọt, tính mát, không độc, La hán quả có tác dụng nhuận phế lợi hầu, hóa đàm chỉ khái, nhuận tràng thông tiện, có tác dụng hữu hiệu trong chữa trị các bệnh liên quan đến đường hô hấp.

- Để chữa viêm họng: Lấy quả la hán thái hãm với nước sôi, uống thay nước trong ngày.

- Chữa mất tiếng: La hán 1 quả, thái lát, thêm lượng nước thích hợp sắc lên, chờ nguội, chia ra uống nhiều lần, mỗi lần một ít.

- Chữa ho gà: La hán 1 quả, hồng khô 25g, sắc nước uống; Hoặc dùng trái la hán 1 quả, phổi lợn 40g (bóp hết bọt), hầm chín, thêm gia vị vào ăn.

- Chữa ho khạc ra đờm vàng đặc quánh: La hán quả 20g, Tang bạch bì 12g, sắc nước uống trong 7-10 ngày.

- Bổ phế, hỗ trợ trong điều trị ho lao: La hán quả 60g, thịt lợn nạc 100g; hai thứ đều thái lát, thêm lượng nước thích hợp, hầm chí, thêm chút muối, ăn trong bữa cơm.

- Chữa táo bón: Dùng la hán quả sắc lấy nước, pha thêm mật ong uống trong ngày.

Trà La hán là thứ nước giải khát giàu dinh dưỡng, rất thích hợp với những người thể tạng nóng trong, đặc biệt là những người bị đái tháo đường hay béo phì. Uống quả La Hán trong mùa hè có thể trị say nắng, giảm nhiệt. Vào mùa Đông, dùng món này sẽ làm mềm và giữ ấm cổ họng.

 

 

 

Ý nghĩa các loài hoa

Trồng hoa ban công chung cư như thế nào

Hướng dẫn trồng hoa thiên lý

Cách làm tinh dầu dừa an toàn

Tác dụng của cây lược vàng

Tác dụng của cây mật gấu đối với sức khỏe con người

Tác dụng của cây mật nhân "thần dược" cho sức khỏe

Tác dụng của nha đam (lô hội)

Tác dụng của rau ngót

Công dụng của nhựa cây mướp

Làm đẹp từ cây lô hội

Tác dụng của quả chùm ruột đối với sức khỏe

Tác dụng của quả lựu đối với sức khỏe con người

Tác dụng của chuối

Cây chó đẻ có tác dụng chữa bệnh gì?

Hoàn ngọc-cây thuốc quý

 

(ST).

 

• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.
1
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp + 1 ngày trước
1 Trả lời 13 click
An_nick Nấm Linh Chi được dùng tốt nhất vào buổi sáng lúc bụng đói. Uống nhiều nước làm tăng công hiệu của nấm Linh Chi vì giúp cơ thể thải ra những chất độc. Có thể dùng Linh chi với cam thảo,quả la hán quả và bông cúc sẽ ngon hơn.
Câu trả lời được gửi + 1 ngày trước

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 11 giờ trước
0 Trả lời 6 click
avatar
annick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 12 giờ trước
0 Trả lời 7 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 19 giờ trước
0 Trả lời 3 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 21 giờ trước
0 Trả lời 4 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 21 giờ trước
0 Trả lời 2 click