Đau mắt trắng là gì? Nguyên nhân gây bệnh đau mắt trắng. Triệu trứng của bệnh đau mắt trắng. Điều trị và phòng ngừa đau mắt trắng như thế nào?
Đau mắt trắng là gì
|
| Đồng tử trắng là dấu hiệu rất nguy hiểm. |
Khi nhìn vào mắt trẻ, nếu thấy có một khối
màu trắng hoặc sau đồng tử có ánh màu trắng, chứng tỏ trẻ đã bị một bệnh
nặng như đục thủy tinh thể, ung thư võng mạc, nhiễm ký sinh trùng...
Nếu không được điều trị sớm, trẻ có thể bị hỏng mắt.
Hầu hết các bệnh gây đồng tử trắng đều
không có triệu chứng rõ rệt (không đau, không nhức, nhìn vào không thấy
có gì đặc biệt...). Trẻ lại không diễn đạt được tình trạng của mình nên
bệnh chỉ được phát hiện một cách tình cờ khi đi khám một bệnh khác. Vì
vậy, cha mẹ cần chú ý theo dõi đôi mắt của con; nếu thấy đồng tử có màu
trắng, cần nghĩ ngay đến các bệnh sau và đưa trẻ đi khám ngay:
- Đục thủy tinh thể: Thường do
vi khuẩn Rubeola (do bà mẹ mắc phải khi có thai 3 tháng) gây ra. Cách
điều trị là phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân tạo. Sau này, trẻ có thể
nhìn thấy bình thường.
- Ung thư võng mạc: Thường gặp
nhất ở trẻ 1-3 tuổi, đa số trước 6 tuổi. Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ
mắc bệnh này còn có thể bị lé, mắt đau, đỏ, tăng nhãn áp. Nếu thấy các
dấu hiệu trên, cần cho trẻ đi khám ngay vì đây là bệnh rất nguy hiểm,
cần chẩn đoán sớm và điều trị tích cực. Bác sĩ sẽ cho trẻ siêu âm, chụp
CT hay MRI để xác định bệnh. Tùy theo giai đoạn bệnh và kích thước của
u, bác sĩ sẽ quyết định điều trị bằng tia, làm lạnh đông, hóa trị hay
múc bỏ mắt.
- Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non:
Thường gặp ở những trẻ có cân nặng khi sinh dưới 1,5 kg và tuổi thai
dưới 36 tuần. Bệnh ở thể nặng thường gặp ở trẻ có trọng lượng dưới 1,2
kg và tuổi thai dưới 28 tuần. Cách điều trị: phẫu thuật, lạnh đông hay
quang đông. Nếu bệnh nhẹ, tỷ lệ phẫu thuật thành công có thể lên đến
75%. Trong một số ít trường hợp nhẹ, bệnh sẽ tự lành.
- Giãn mạch võng mạc (bệnh
Coat): Thường xảy ra ở trẻ nam, dưới 10 tuổi, bị ở một mắt. Ngoài chứng
đồng tử trắng trẻ, còn có thể bị lé. Khi khám, bác sĩ thấy ở võng mạc có
mạch máu giãn nở, ngoằn ngoèo, thoát ra các chất mỡ màu hơi trắng ở cực
sau hay ngoại biên của mắt. Bệnh có thể tiến triển thành bong võng mạc,
đục thủy tinh thể hoặc viêm màng bồ đào. Việc điều trị (áp lạnh đông
hay dùng laser) không giúp cải thiện thị lực mà chỉ có thể không cho
bệnh tiến triển nặng thêm.
- Nhiễm ký sinh trùng của loài chó
(Toxocara): Thường thấy ở trẻ lớn. Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ còn
có những u hạt ở phần sau mắt hoặc bị viêm pha lê thể. Xác định bệnh
bằng cách thử máu. Điều trị: cho uống thuốc chống sán và cortisone.
BS Nguyễn Cường Nam, Sức Khỏe & Đời Sống
Điều trị
Cách phân biệt từng loại và điều trị:
- Cườm: nếu là cườm bẩm sinh thì xuất hiện sau khi sinh. Thường là gặp
do bệnh hồng ban do bà mẹ mắc phải khi có thai 3 tháng. Khi trẻ bị cườm,
phải mổ để lấy cườm ra và thay thủy tinh thể nhân tạo. Sau này, trẻ có
thể thấy bình thường.
- Ung thư võng mạc: đây là bệnh nguy hiểm nhất, cần phải chẩn đoán sớm
và điều trị tích cực. Thường gặp nhất ở trẻ nhỏ khoảng 1-3 tuổi. Ngoài
đồng tử trắng, trẻ còn có thể bị lé, mắt đau, đỏ, tăng áp mắt. Nếu thấy
các dấu hiệu trên, cần cho trẻ đi khám bác sĩ ngay. Bác sĩ sẽ cho trẻ
siêu âm, chụp CT hay MRI để xác định bệnh. Tùy theo giai đoạn, kích
thước của bướu mà điều trị bằng tia, làm lạnh đông, hóa trị hay múc bỏ
mắt.
- Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non: ngay tên gọi của bệnh cũng cho biết bệnh
xuất hiện ở trẻ sinh non, được nuôi trong lồng kính có nồng độ oxy
cao. Thường gặp ở những trẻ có cân nặng khi sinh dưới 1,5 kg và tuổi
thai dưới 36 tuần. Bệnh ở thể nặng thường gặp có trọng lượng dưới 1,2
kg và tuổi thai dưới 28 tuần
Điều trị: Cần phải phẫu thuật, lạnh đông hay quan đông. Nếu bệnh
nhẹ, có thể phẫu thuật thành công đến 75 %. Một số ít trường hợp bệnh
nhẹ sẽ tự lành.
- Giãn mạch võng mạc hay còn gọi là bệnh Coat: ngoài đồng tử trắng, trẻ
còn có thể bị lé. Thường xảy ra ở trẻ nam, dưới 10 tuổi, bị ở một mắt.
Khi khám, bác sĩ thấy ở võng mạc có mạch máu giãn nở, ngoằn ngoèo,
thoát ra các chất mỡ màu hơi trắng ở cực sau hay ngoại biên của mắt.
Bệnh có thể tiến triển thành bong võng mạc, cườm hay viêm bồ đào.
Điều trị: Không giúp mắt trẻ sáng hơn. Áp lạnh đông hay dùng laser chỉ để tránh bệnh nặng nề thêm.
- Nhiễm ký sinh trùng của loài chó (Toxocara) thấy ở trẻ lớn hơn. Ngoài
đồng tử trắng, trẻ có tiền căn tiếp xúc với chó, vô tình ăn phải các
vật dơ có phân chó. Bác sĩ khám thấy có những bướu hạt ở phần sau của
mắt hay bị viêm pha lê thể. Chẩn đoán bệnh căn cứ vào kết quả thử máu.
Điều trị: Cho uống thuốc chống sán và Cortisone
- Tồn tại pha lê thể nguyên phát quá sản: thấy ở trẻ có mắt nhỏ, đục
thủy tinh thể và một khối mô sợi của mạch nằm sau thủy tinh thể. Thường
gặp ở một mắt.
Điều trị: phải mổ để cắt bỏ màng. Kết quả tùy thuộc vào trạng thái bệnh nặng hay nhẹ.
Tóm lại, đồng tử trắng là dấu hiệu của một bệnh nặng ở mắt trẻ, làm trẻ
nhìn mờ hoặc gây mù lòa. Cần phải cho trẻ đến khám bác sĩ chuyên khoa
để xác định rõ bệnh. Trong đó, bệnh nguy hiểm nhất là ung thư võng mạc,
vì vậy, cần phải điều trị tích cực, nếu không sẽ đe dọa đến tính mạng
trẻ.
Nguồn: Sức Khỏe & Đời sống
(St)