Bệnh viêm tuyến giáp là gì? Nguyên nhân gây bệnh viêm tuyến giáp. Triệu chứng của bênh viêm tuyến giáp là gì. Phân loại và điều trị viêm tuyến giáp.
Viêm tuyến giáp
So với bướu cổ đơn thuần và nhiễm độc
giáp, căn bệnh này ít được biết đến hơn nên dễ bị bỏ qua. Bệnh tuy
không nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể gây suy giáp, ảnh hưởng lớn
đến cuộc sống bệnh nhân, nhất là với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Nguyên nhân gây viêm tuyến giáp có thể
là vi khuẩn, virus, thuốc hoặc do miễn dịch... Bệnh có thể gây suy
giáp, cường giáp (nhiễm độc giáp) hoặc cả hai.
Hình ảnh viêm tuyến giáp Hashimoto.
Các triệu chứng:
Viêm tuyến giáp Hashimoto có rất nhiều triệu chứng nhưng không có
triệu chứng nào là đặc hiệu. Bệnh thường tiến triển âm thầm trong nhiều
năm, tiến triển dần đến suy giáp. Khi đó BN mới thấy có triệu chứng bất
thường và chủ yếu là triệu chứng của suy giáp. Các triệu chứng nhiều hay
ít, nặng hay nhẹ phụ thuộc vào mức độ suy giáp. Lúc đầu BN thường chỉ
thấy mệt, tăng cân nhẹ mà nhiều người nghĩ rằng đó là dấu hiệu của tuổi
già. Nhưng khi bệnh nặng hơn thì các triệu chứng nhiều hơn, nặng hơn
khiến BN phải đi khám, đó là: Mệt mỏi; Sợ lạnh; Táo bón nặng; Da khô,
tái; Mặt phù tròn; Giọng khàn; Tăng cân không giải thích được mặc dù
chán ăn, mức độ tăng cân thường từ 5 - 10kg, chủ yếu do giữ nước; Đau
cơ, cứng cơ nhất là cơ vai và đùi kèm theo yếu cơ, nhất là cơ chi dưới;
Rối loạn kinh nguyệt, thường là rong kinh; Trầm cảm, buồn ngủ; Tuyến
giáp thường to (gây bướu cổ) nhưng cũng có thể teo nhỏ nên khi khám
tuyến giáp sẽ không phát hiện được gì đặc biệt.
Nếu không được điều trị, các triệu chứng sẽ nặng dần và tuyến giáp to
lên kèm theo BN hay quên, trí nhớ giảm sút, hoạt động chậm chạp... có
thể nhầm lẫn với bệnh tâm thần. Một số BN, nhất là BN lớn tuổi, có thể
bị hôn mê do suy giáp (rất nặng). Cũng có những BN được phát hiện bệnh
tình cờ khi làm xét nghiệm thấy có mỡ máu cao, điều trị kém hiệu quả.
Lúc đó thầy thuốc mới đi tìm nguyên nhân gây rối loạn mỡ máu và phát
hiện suy giáp.
Viêm tuyến giáp Hashimoto gây biến chứng gì?
Nếu không điều trị, bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto có thể ảnh hưởng
nhiều đến sức khỏe người bệnh và gây biến chứng như bướu cổ, bệnh tim
mạch, tâm thần kinh, phù niêm và có thể gây dị tật bẩm sinh ở những bà
mẹ mắc bệnh Hashimoto mà không được điều trị.
Có nhiều loại viêm tuyến
giáp, phổ biến là:
Viêm tuyến giáp mạn tính
Còn gọi là bệnh Hashimoto (tên vị bác sĩ người Nhật phát hiện ra căn
bệnh này). Đây là loại viêm tuyến giáp phổ biến nhất và là nguyên nhân
hàng đầu gây suy giáp; là hậu quả rối loạn hoạt động của hệ miễn dịch.
Thông thường, hệ thống miễn dịch có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại
các vi khuẩn và virus nhưng trong bệnh Hashimoto, nó lại sinh ra những
kháng thể tấn công vào các cơ quan, trong đó có tuyến giáp.
Tuyến giáp bị phá hủy dần dần và rất
âm thầm nên đa số người bệnh không biết và không được chẩn đoán. Đến khi
tuyến này bị phá hủy quá nhiều, không sản xuất đủ lượng nội tiết tố mà
cơ thể cần thì bệnh suy giáp xuất hiện; nhiều trường hợp có biểu hiện là
bướu cổ to.
Viêm tuyến giáp Hashimoto gặp ở khoảng
5% người trưởng thành và có xu hướng tăng lên theo tuổi. Bệnh có tính
chất gia đình, gặp chủ yếu ở phụ nữ và thường phối hợp với một số bệnh
khác như đái tháo đường, viêm khớp, bạch biến...
Viêm tuyến giáp bán cấp
Là dạng thường gặp sau viêm tuyến giáp Hashimoto, hay xuất hiện sau một
đợt bị viêm hầu họng hoặc viêm đường hô hấp trên. Lúc đầu, tuyến giáp bị
phá hủy đã giải phóng ra nhiều nội tiết tố dự trữ, gây cường giáp tạm
thời. Sau 1-2 tháng, bệnh nhân lại rơi vào tình trạng suy giáp do tuyến
giáp đã bị phá hủy, không còn khả năng sản xuất, còn lượng nội tiết tố
dự trữ đã sử dụng hết. Sau 6-9 tháng, đa số bệnh nhân sẽ trở về bình
giáp, tuy nhiên một số sẽ bị suy giáp vĩnh viễn. Có 2 thể viêm tuyến
giáp bán cấp, đó là:
Thể đau dữ dội: Tuyến giáp (tương ứng vùng cổ trước) sưng, toàn
bộ vùng cổ đau dữ dội gây hạn chế vận động, nuốt đau, mất ngủ... Điều
trị bằng aspirin hoặc các thuốc chống viêm giảm đau khác, đặc biệt với
corticoid. Bệnh nhân có thể có sốt nhẹ hoặc vừa.
Thể không đau: Các triệu chứng thường nhẹ, tuyến giáp có sưng
nhưng không đau, thường xảy ra ở những phụ nữ sau sinh (5-9%) trong vòng
1 năm nên còn được gọi là viêm tuyến giáp sau sinh. Bệnh có xu hướng
hay tái phát ở những lần có thai sau.
Viêm tuyến giáp cấp
Còn gọi là viêm tuyến giáp sinh mủ, nguyên nhân là vi khuẩn. Bệnh rất
hiếm gặp. Bệnh nhân thường mệt mỏi, sốt cao, vùng cổ sưng nóng, đỏ, đau.
Viêm tuyến giáp cấp được xem là một cấp cứu nội khoa, cần điều trị tích
cực bằng kháng sinh liều cao và chích tháo mủ.
Chẩn đoán viêm tuyến giáp tương đối khó, nhất là khi các triệu chứng còn nhẹ,
không có triệu chứng hoặc bệnh nhân đã tự dùng kháng sinh và thuốc giảm
đau trước khi đến bệnh viện. Việc điều trị sẽ tùy theo thể bệnh, giai
đoạn bệnh và mức độ của các triệu chứng. Nhìn chung, tiên lượng của các
bệnh nhân viêm tuyến giáp là tốt, phần lớn đều khỏi bệnh và có cuộc sống
hoàn toàn bình thường.
Điều trị như thế nào?
- Phương hướng điều trị bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto phụ thuộc BN
đã có suy giáp hay chưa. Nếu không có bằng chứng của thiếu hụt hormon
giáp thì BN không cần điều trị gì nhưng cần tái khám định kỳ để phát
hiện sớm và điều trị kịp thời suy giáp. Cho đến nay chưa có thuốc nào có
tác dụng điều trị khỏi bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto.
- Với những BN có thiếu hụt hormon (có suy giáp) sẽ được điều trị
thay thế bằng hormon giáp tổng hợp, thuốc có cấu trúc và tác dụng giống
hệt hormon tự nhiên do tuyến giáp sản xuất ra.
- Thường sau khi điều trị một thời gian ngắn, BN sẽ thấy đỡ mệt nhưng
để cải thiện hoàn toàn các triệu chứng cũng như kết quả xét nghiệm (T4,
TSH, cholesterol...) về bình thường thì phải mất 3 - 6 tháng.
- Điều chỉnh liều thuốc: Một khi đã bị suy giáp, các BN viêm tuyến
giáp Hashimoto cần điều trị hormon thay thế suốt đời. Để đảm bảo liều
thuốc có tác dụng thì BN cần được xét nghiệm đánh giá thường xuyên, có
thể là hàng tháng trong thời gian đầu cho đến khi xác định được liều
thích hợp và sau đó là hàng năm. Dùng liều thuốc thyroxin cao hoặc thấp
quá đều không tốt, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe. Thường các BN bắt đầu
dùng liều thấp rồi tăng dần dựa trên kết quả xét nghiệm. Mục tiêu và
cũng là chỉ số điều chỉnh liều thyroxin là TSH máu, tốt nhất là ở mức
0,5 - 2,5 U/l. Bệnh nhân cần nhớ là không nên uống thuốc vào buổi sáng
ngày đi khám để xét nghiệm được chính xác.
(ST)