Giác mạc là một mảnh mô mỏng,
trong suốt nằm phía trước con ngươi mắt, có nhiệm vụ bảo vệ mắt và góp
phần vào hoạt động khúc xạ của mắt. Vì là một lớp rất mỏng, lại là bộ
phận đầu tiên của mắt tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài nên
giác mạc rất dễ bị tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn, virut hoặc
nấm xâm nhập.
Khi giác mạc bị viêm loét sẽ dẫn đến các
di chứng và biến chứng như sẹo giác mạc, teo nhãn, lồi mắt cua và làm
giảm thị lực, thậm chí mù loà. Đây là loại bệnh có nguy cơ gây mù khá
cao, chỉ sau bệnh đục thủy tinh thể và glôcôm.
Tại sao giác mạc bị viêm?
Nguyên nhân gây viêm loét giác mạc thường
do sau một chấn thương trong sinh hoạt, lao động như bị bụi, côn trùng,
mảnh kính vỡ nhỏ bắn vào mắt;... hạt thóc, lá lúa, cọng rơm, bụi đá
mài, cành cây quệt vào mắt,...
Sau các bệnh lý như: viêm kết mạc, hở mi,
do liệt thần kinh, rối loạn chuyển hoá, viêm loét giác mạc do thiếu
vitamin A (thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng); Hoặc do dùng kính sát tròng
không đúng cách, tự ý dùng thuốc nhỏ mắt kéo dài mà không có chỉ định
của bác sĩ chuyên khoa...
Biểu hiện nhận biết
Người bệnh bị viêm loét giác mạc sẽ có các biểu hiện sau:
- Đau nhức mắt: Mắt đau nhức nhối âm ỉ,
từng lúc dội lên, bất cứ một tác động nào cũng làm tăng cảm giác đau
(ánh sáng, va chạm).
- Chảy nước mắt: Khi người bệnh tự mở mắt, hoặc vành vi mắt nước mắt sẽ chảy ràn rụa.
- Chói, sợ ánh sáng: Người bệnh luôn nhắm
nghiền mắt, mi mắt nhắm chặt lại. Trẻ nhỏ thì luôn chúi đầu vào lòng
mẹ, không dám mở mắt.
- Mắt nhìn mờ: Thị lực giảm tuỳ theo mức độ của bệnh
- Mắt đỏ, đặc biệt đỏ nhiều quanh tròng đen. Đôi khi sẽ thấy một ngấn mủ màu trắng ở trước tròng đen.
- Xuất hiện đốm trắng to hay nhỏ ở trên giác mạc, nhưng thường ở trung tâm giác mạc.
Bệnh viêm loét giác mạc nếu tiến triển
nặng, vết loét càng rộng sẽ dẫn đến biến chứng như sẹo giác mạc, teo
nhãn, lồi mắt cua, giảm thị lực thậm chí mù lòa nếu không điều trị kịp
thời hoặc điều trị không đúng cách.
Cần phát hiện và điều trị sớm
Tuy bệnh viêm loét giác mạc sau khi điều
trị khỏi vẫn thường để lại di chứng, đó là các vết sẹo đục, trắng làm
cho giác mạc mất tính trong suốt nhưng việc phát hiện và điều trị sớm sẽ
giúp giảm di chứng, cải thiện tốt thị lực.
Sẹo giác mạc mỏng hay dày, to hay nhỏ phụ
thuộc tình trạng nặng nhẹ của bệnh. Nếu bệnh nhẹ sau khi khỏi sẽ để lại
sẹo mỏng, nông ít ảnh hưởng đến thị lực. Nếu bệnh nặng hơn sẽ để lại
sẹo đục, dày, rộng không những làm thị lực mờ đi mà còn gây ra viêm loét
tái phát, đặc biệt khi cơ thể giảm sức đề kháng.
Người bệnh có các triệu trứng của viêm
loét giác mạc khi đến cơ sở y tế sẽ được các bác sĩ chuyên khoa mắt khám
và làm một số xét nghiệm để tìm nguyên nhân gây bệnh. Tùy theo nguyên
nhân gây bệnh, bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp.
Phòng viêm loét giác mạc như thế nào?
Theo thống kê của các cơ sở y tế chuyên
khoa mắt các bệnh nhân bị viêm loét giác mạc nguyên nhân thường do chấn
thương trong sinh hoạt và lao động bị bụi, dị vật, côn trùng, cành cây,
hạt lúa... văng vào mắt, người bệnh không biết cách xử trí, dụi mắt liên
tục khiến giác mạc bị tổn thương (trầy xước) tạo điều kiện cho vi
khuẩn, virut hoặc nấm xâm nhập gây viêm loét.
Ngoài ra một số người bệnh bị viêm kết
mạc, đau mắt hột đã tự ý dùng thuốc nhỏ mắt mà không chỉ định của bác sĩ
chuyên khoa hoặc lạm dụng thuốc, đặc biệt là các thuốc nhỏ mắt có chứa
prednisolon, dexamethason hay hydrocortison khiến bệnh ngày càng nặng
gây thủng, hoại tử giác mạc, gần như mù lòa... Do đó cách phòng tránh
các tác nhân gây bệnh và điều trị các bệnh lý về mắt có thể dẫn đến viêm
loét giác là vô cùng quan trọng
Trong sinh hoạt và lao động sản xuất, đặc
biệt là thời điểm ngày mùa như hiện nay, bà con nông dân khi gặt lúa,
sử dụng máy tuốt lúa cần chú ý: Tránh để hạt lúa văng vào mắt hay lá lúa
quệt vào mắt, nên sử dụng kính bảo vệ mắt khi dùng máy tuốt lúa.
Khi ra đường nên đeo kính để tránh bụi,
dị vật, côn trùng bay vào mắt. Nếu chẳng may bị dị vật, côn trùng bay
vào mắt không nên dụi mắt liên tục mà ngay lúc đó cần nhúng mắt trong
một cốc nước sạch và nháy liên tục dị vật nhỏ hoặc côn trùng có thể sẽ
trôi ra.
Nếu cảm thấy vẫn còn dị vật trong mắt,
mắt cộm, ngứa, đỏ, chảy nước mắt, đau nhức cần đến ngay cơ sở y tế
chuyên khoa mắt để các bác sĩ kiểm tra. Tuyệt đối không nên dùng các
loại lá cây, côn trùng đắp vào mắt theo mách bảo sẽ rất nguy hiểm.
Khi được khám xác định là viêm loét giác
mạc người bệnh phải tuyệt đối tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ và
tái khám theo định kỳ để phòng ngừa bệnh tái phát. Vì thường sau mỗi lần
viêm loét tái phát, sẹo giác mạc sẽ dày hơn và thị lực giảm nhiều hơn
so với lần trước hoặc có thể tiến triển trầm trọng hơn.
Nếu bị các bệnh về mắt như viêm kết mạc
(đau mắt đỏ), lông quặm,... người bệnh cần đi khám để được điều trị đúng
cách, tránh biến chứng dẫn đến viêm loét giác mạc.
C
ần điều trị sớm viêm giác mạc
Tôi bị đau mắt, đã chữa nhưng không khỏi. Vừa qua đi khám, kết quả ghi viêm giác mạc mạn tính. Mong bác sĩ tư vấn về bệnh này?
Viêm
giác mạc chia ra làm hai nhóm chính: dạng viêm nông là viêm loét giác
mạc và viêm giác mạc sâu là viêm nhu mô. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh:
do chấn thương rách, xước giác mạc, dị vật. Do vi khuẩn: tụ cầu, trực
khuẩn mủ xanh, cầu khuẩn lậu, các loại virut. Trong đó adeno virut ban
đầu gây viêm kết mạc cấp, nếu sau 7-10 ngày dễ gây viêm giác mạc chấm
nông; virut herpes gây viêm giác mạc rất khó điều trị; nấm cũng gây viêm
giác mạc khó điều trị và gây biến chứng nguy hiểm. Ngoài ra còn gặp các
nguyên nhân do hở mi, do sẹo, do liệt thần kinh, do dị ứng, rối loạn
chuyển hóa, do suy dinh dưỡng khô mắt, thiểu tiết nước mắt, thiếu
vitamin A cũng gây viêm giác mạc…
|
Ảnh minh họa (nguồn Internet).
|
Triệu
chứng của bệnh gồm: đau nhức âm ỉ, đau dội lên khi có kích thích như
ánh sáng, vận động mắt. Bệnh nhân luôn nhắm nghiền mắt vì sợ ánh sáng.
Chảy nước mắt: khi bệnh nhân mở mắt thấy nước mắt chảy giàn giụa. Giảm
thị lực nhiều so với trước khi đau mắt là một triệu chứng để chẩn đoán
phân biệt với viêm kết mạc. Bệnh có thể dẫn đến: thành sẹo làm giảm thị
lực; loét sâu hoại tử đến hết lớp nhu mô, viêm mủ nội nhãn… Do các hậu
quả nặng như thế nên việc phát hiện và điều trị sớm bệnh viêm loét giác
mạc rất quan trọng để hạn chế tổn thương vĩnh viễn và giảm thị lực. Vì
vậy bạn phải đi khám chuyên khoa mắt để được chẩn đoán và điều trị càng
sớm càng tốt.

Tùy theo nguyên nhân gây viêm kết mạc để lựa chọn loại thuốc nhỏ mắt.
Dùng thuốc nhỏ mắt trong điều trị bệnh viêm kết mạc
Bệnh viêm kết mạc (VKM, còn gọi là
bệnh đau mắt đỏ) thường gây ra cảm giác khó chịu ở mắt và ảnh hưởng
nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.
Bệnh VKM là một bệnh thông
thường hay gặp ở nước ta, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra những
biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc.
Các nguyên nhân gây viêm kết mạc
- Do nhiễm khuẩn bởi các loại vi khuẩn trong điều kiện vệ sinh kém.
- Do nhiễm virút với các chủng virút như: adenovirus, enterovirus.
- Do dị ứng với phấn hoa, bụi, phấn trang điểm…
- Do kích ứng với các hóa chất như: chất chlorine trong hồ bơi, khói thuốc lá, dầu gội đầu…
Bệnh VKM do nhiễm khuẩn và nhiễm virút thường lây lan rất nhanh từ người này sang người khác.
Các triệu chứng
- Kết mạc đỏ (kết mạc là màng niêm mạc bao phủ phía trước của mắt và phía bên trong của mi mắt).
- Xuất hiện ghèn dính chặt hai mi mắt lại với nhau sau khi ngủ dậy.
- Chảy nước mắt nhiều.
- Ngứa mắt.
- Xốn mắt.
- Mắt mờ.
- Tăng sự nhạy cảm với ánh sáng.

Thuốc nhỏ mắt là một dung dịch vô trùng, đẳng trương dùng để điều trị hay giúp khám chẩn đoán các bệnh về mắt. (Ảnh minh họa).
Thuốc nhỏ mắt trong điều trị bệnh viêm kết mạc
Thuốc nhỏ mắt là một dung dịch vô trùng,
đẳng trương dùng để điều trị hay giúp khám chẩn đoán các bệnh về mắt.
Tùy theo nguyên nhân gây ra bệnh VKM mà các thầy thuốc sẽ chọn lựa loại
thuốc nhỏ mắt thích hợp để điều trị:
Thuốc nhỏ mắt kháng khuẩn: loại
thuốc nhỏ mắt dùng để điều trị VKM do nhiễm khuẩn, trong thành phần là
các kháng sinh phổ rộng như: choramphenicol, neomycin, tobramycin,
offloxacin, sulfocetamid, polymycin B... Nên lưu ý với loại thuốc nhỏ
mắt kháng sinh không được sử dụng với thời gian quá một tuần.
Thuốc nhỏ mắt kháng viêm: loại
thuốc nhỏ mắt mà trong thành phần là các corticoid như: dexamethason,
fluoromethason, prednisolon... hay thuốc kháng viêm non-steroid (NSAID)
như diclofenac. Do có tính chất kháng viêm hay vừa kháng viêm vừa kháng
dị ứng (nhóm thuốc corticoid) nên thuốc nhỏ mắt loại này thường được sử
dụng để làm giảm bớt sưng đỏ ở mắt do VKM. Cần lưu ý với loại thuốc nhỏ
mắt có corticoid khi dùng trong một thời gian dài sẽ gây ra các biến
chứng nguy hiểm như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp…
Thuốc nhỏ mắt kháng dị ứng:
loại thuốc nhỏ mắt dùng để điều trị VKM do dị ứng. Trong thành phần là
các kháng histamin H1, như: chlorpheniramin, antazoline,
diphenhydramin... nên rất hiệu quả để làm giảm triệu chứng ngứa mắt do
dị ứng
Thuốc nhỏ mắt kháng kích ứng:
thuốc nhỏ mắt mà thành phần là các chất bôi trơn và nước mắt nhân tạo
như: glycerin, polyvidon, polyvinyl alcohol… giúp ngăn ngừa tình trạng
khô, xốn mắt hay chất co mạch cục bộ như: naphazoline, tetrahydrozoline…
có tác dụng chống sung huyết mắt do kích ứng
Thuốc nhỏ mắt kết hợp: trong thành phần
là sự kết hợp hai hay nhiều nhóm thuốc với nhau như kháng sinh, kháng
viêm corticoid… giúp tăng hiệu quả điều trị.
Trong bệnh VKM cần phòng ngừa bệnh như
việc giữ vệ sinh thật tốt: không dùng chung khăn mặt, nước rửa mặt không
nhiễm khuẩn, không chạm tay bẩn lên mắt, mang kính để bảo vệ mắt…. là
vấn đế rất quan trọng giúp bảo vệ mắt khỏi bị bệnh.
Một số phương pháp điều trị viêm giác mạc
|
|
| Bệnh nhân bị viêm loét giác mạc có thể tham khảo một số phương pháp điều trị dưới đây: |
|
Lý tưởng nhất là điều trị theo nguyên nhân - Viêm loét giác mạc do vi khuẩn: Điều trị bằng kháng sinh theo kháng sinh đồ, nên phối hợp 2-3 loại kháng sinh, đường dùng toàn thân và tại chỗ . - Virus:
Có những loại thuốc chống tất cả các virus nói chung như Idoxuridine
(dung dịch 0,1%, mỡ 0,5%), Vira - A (mỡ 3%), Trifluridine (Viroptic -
dung dịch 1%) ... Riêng với virus herpes , thuốc thường dùng là
Acyclovir (zovirax ) 200 mg x 4 - 5 lần uống/ngày cách quãng đều nhau
trong 24h kết hợp tra mắt mỡ Zovirax 3% cũng với nhịp độ như đường uống. - Nấm:
Ở nước ta, loét giác mạc hay gặp do 2 loại nấm Aspergilus fumigatus và
Cephalosporium falciformits. Bệnh cảnh loét giác mạc do Cephalosporium
cấp diễn gần như loét do trực khuẩn mủ xanh vì chủng nấm này có tiết men
chollagenase gây hoại tử giác mạc nhanh chóng. +
Kháng sinh chống nấm thường dùng hiện nay là Sporan (Itraconazole) 100
mg x 2 viên/ngày uống 1 lần x 21 ngày kết hợp tra mắt dung dịch
Natamycin (Natacyn) 5% cách 1h một lần . + Các kháng sinh chống nấm khác có thể kể tới như Nizoran, Amphotericin B, Nystatin ... nhưng tác dụng kém nhiều so với Sporan . Phối hợp với kháng sinh chống nấm, cần dùng thêm - Dung
dịch IK 5% uống liều 2g/ngày tăng từng bậc 0,5g cho tới liều 5g/ngày
trong vòng 2-5 tuần. Dung dịch IK hơi khó uống vì vậy nên chia ra nhiều
lần trong ngày và uống vào lúc no. IK còn dùng dưới dạng dung dịch 1-2%
để tra mắt hoặc điện di . -
Dung dịch Lugol 5% dùng để chấm ổ loét hàng ngày. Lưu ý khi trước khi
chấm Lugol cần thấm thật khô nước mắt để tránh lan thuốc ra vùng giác
mạc lành . Miễn dịch dị ứng - Khi chưa biết rõ nguyên nhân cần dùng kháng sinh toàn thân và tại chỗ: - Đường toàn thân: Tiêm hoặc uống. Tại chỗ -
Tiêm dưới kết mạc 100.000-200.000 đv Penicilin hoặc1/10g Steptomycin
hoặc 40mg Gentamycin (1ml dung dịch) x 1lần/ngày hay cách ngày. Kết hợp
tra mắt càng nhiều lần càng tốt các dung dịch kháng sinh, sát trùng.
Thuốc mỡ tra mắt vào buổi tối trước khi đi ngủ. -
Thuốc nam : Lá rấp cá giã nhỏ đắp lên mắt qua một miếng gạc trong tư
thế bệnh nhân nằm ngửa, mắt khi đó như được ngâm trong nước ép của lá
rấp cá - một vị thuốc dân gian đã được chứng minh là có tác dụng kháng
khuẩn tương đối tốt . Chống hoại tử -
Dùng 0,5 ml huyết thanh tự thân hoặc máu tự thân pha lẫn dung dịch
kháng sinh tiêm dưới kết mạc hàng ngày hoặc cách ngày. - macroglobulin ở
trong huyết thanh có tác dụng ức chế hoạt động của men chollagenase.
Cũng với mục đích này người ta còn dùng dung dịch EDTA 3%
(etyl-diamin-tetra acetat) hoặc Acetylcysteine 10 – 20 % tra mắt, uống
hoặc tiêm vitamin C liều cao 1g/ngày... Chống dính và giảm đau - Atropin 1% tra mắt 1lần/ ngày. - Uống các thuốc chống nề phù như Danzen, Amitase, Alphachymotripsine... - Các thuốc giảm đau thông thường khác . Tăng cường dinh dưỡng - Uống các loại vitamin A, B2, C... - Tra dầu A,dung dịch CB2, băng che, đeo kính mát để giảm kích thích cho mắt. Loại trừ các yếu tố sang chấn - Mổ quặm, lông siêu, lấy sạn vôi ... - Tạo hình điều trị hở mi, nhiều trường hợp mi hở mà chưa tạo hình được cần phải khâu cò mi... Xử trí các biến chứng - Phồng màng Descemet: Khâu cò hoặc khâu phủ kết mạc. - Thủng giác mạc: + Tốt nhất là ghép giác mạc nóng. + Nếu không có điều kiện ghép giác mạc thì tiến hành khâu cò hoặc khâu phủ kết mạc tạm thời. + Ghép giác mạc còn được chỉ định khi các biện pháp điều trị bằng thuốc không có kết quả . - Mủ nội nhãn, thị lực ST (-): + Buộc phải chỉ định múc nội nhãn sau khi đã dùng kháng sinh tích cực, nhiều đường, kể cả đường tiêm vào buồng dịch kính . +
Loét giác mạc là một bệnh nặng, điều trị khó khăn và thường để lại di
chứng là sẹo đục giác mạc gây giảm thị lực. Cần phải đặc biệt lưu ý nhấn
mạnh vấn đề phòng bệnh và phát hiện bệnh sớm để điều trị kịp thời. +
Đối với các thày thuốc, có một điều cần nhớ là việc lạm dụng các chế
phẩm chứa corticosteroid tra mắt (Polydexa, Dexachlor,
Maxitrol,Tobradex...) hoặc dùng kéo dài những thuốc loại này sẽ gây giảm
khả năng đề kháng của mắt đưa tới nguy cơ viêm loét giác mạc do nấm, do
herpes. Chỉ định dùng những loại thuốc này phải thật chặt chẽ và thận
trọng . (St)
|
|