Cây thuốc chữa bệnh sỏi thận cực hiệu quả


Cây thuốc chữa bệnh sỏi thận cực hiệu quả. Kim tiền thảo, dứa dại, trạch tả, mã đề là những cây thuốc có tác dụng trị các bệnh sỏi đường tiết niệu, nhiễm trùng đường tiết niệu, tiểu ra máu, phù thũng... hiệu quả.




 
CÂY THUỐC CHỮA BỆNH SỎI THẬN CỰC HIỆU QUẢ

Cây thuốc hay trị bệnh đường tiết niệu 

 

1. Kim tiền thảo

Kim tiền thảo còn gọi là vẩy rồng, mắt trâu, đồng tiên lông, tên khoa học Desmodium styracifolium (Osb.) Merr., thuộc họ đậu.

Cây nhỏ cao 40-80cm, mọc bò. Thân rạp xuống, đâm rễ ở gốc rồi mọc đứng. Cành non hình trụ, khía vằn và có lông nhung màu rỉ sắt. Lá mọc so le gồm một hoặc ba lá chét, dài 2,5 - 4,5cm, rộng 2 - 4cm; lá chét giữa hình mắt chim, các lá chét bên có hình bầu dục – mắt chim, mặt trên lá có màu lục, nhẵn, mặt dưới lá có lông trắng bạc và mềm. Cụm hoa chùm hay chùy ở nách lá hay ở ngọn, có lông mềm, thường có lá ở gốc các hoa. Hoa màu hồng, xếp 2 - 3 cái một. Quả thõng, hơi cong hình cung, có 3 đốt. Mùa hoa tháng 6 - 9, quả tháng 9 - 10.

Kim tiền thảo trị các bệnh đường tiết niệu hiệu quả.

Kim tiền thảo trị các bệnh đường tiết niệu hiệu quả. Ảnh: thuocnam

Kim tiền thảo mọc hoang ở các đồi vùng trung du hoặc vùng núi. Thường gặp ở chỗ sáng, trên đất cát pha. Người ta thu hái toàn cây vào mùa hè-thu, dùng tươi hay phơi khô để dùng dần.

Theo Đông y, kim tiền thảo có vị ngọt nhạt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, tán thấp, lợi niệu, thông đàm.

Thường dùng chữa sỏi niệu đạo, sỏi bàng quang, sỏi túi mật, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm thận phù thũng, viêm gan vàng da. Ngày dùng 15-60g, dạng thuốc sắc uống. Phụ nữ có thai không nên dùng.

 

Một số bài thuốc dùng kim tiền thảo

- Sỏi đường tiết niệu: dùng kim tiền thảo 60g, nấu với 500ml nước, sắc còn 150ml, chia 2-3 uống trong ngày.

Hoặc dùng bài thuốc: Kim tiền thảo 30g, cây râu mèo 20g, rễ cỏ tranh 12g, mã đề 10g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Liệu trình uống 30 ngày.

- Nhiễm trùng đường tiết niệu: Kim tiền thảo 30g, mã đề 16g, kim ngân hoa 16g, bồ công anh 16g, thổ phụ linh 16g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống llúc đói bụng.

- Phù thũng do viêm thận cấp, viêm gan vàng da, viêm mật: Kim tiền thảo 60g, mộc thông 20g, cỏ xước 20g (hoặc ngưu tất 20g), chi tử 10g, rễ tranh 10g, mã đề 10g. Sắc uống như trên.

 

2. Mã đề

Cây mã đề còn gọi là xa tiền thảo, su ma (Tày), nhả én dứt (Thái), nằng chấy mía (Dao), tên khoa học Plantago major L., thuộc họ Mã đề - Plantaginaceae.

Cây thảo sống lâu năm, cao 15-20cm, thân ngắn. Lá mọc thành cụm ở gốc, có cuống rộng, ngắn hơn phiến; phiến lá hình thìa hay hình trứng, có 2-3 gân lá hình cung. Hoa nhỏ màu trắng, xếp thành bông dài, mọc đứng. Quả hộp nhỏ hình cầu, chứa 6-18 hạt. Hạt nhỏ tròn hay bầu dục, to 1-1,5mm, màu đen bóng. Mùa hoa quả tháng 5-8.

Mã đề có tính hàn, vị ngọt, không độc, tác dụng lợi tiểu.

Mã đề có tính hàn, vị ngọt, không độc, tác dụng lợi tiểu. Ảnh: thuocnam.

Mã đề mọc hoang và được trồng khắp nơi để làm thuốc. Người ta cho rằng lọai cây này thường mọc ở những vết chân của ngựa nên trước kia gọi là mã đề (mã: ngựa, đề: móng chân). Vào khoảng tháng 7-8, lúc quả đã chín, thu hái toàn cây về, cắt bỏ rễ, rửa sạch đất cát, cắt từng đoạn ngắn 3-5cm, phơi khô. Muốn lấy hạt thì đập và giữ lấy hạt, rây qua rây rồi phơi khô, bảo quản nơi khô ráo để dùng.

Cây mã đề cho các vị thuốc có tên sau:

- Mã đề thảo (Herba Plantaginis) là toàn cây đã bỏ rễ, phơi hay sấy khô.

- Mã đề diệp, lá mã đề (Folium Plataginis) là lá tươi hay đã phơi hoặc sấy khô.

- Xa tiền tử (Semen Plantaginis) là hạt mã đề đã phơi hoặc sấy khô.

Toàn cây mã đề có chứa một glucosid là aucubin hay rinantin. Lá có chất nhày, chất đắng, caroten, saponin, vitamin A, C và K, acid citric. Trong hạt có nhiều chất nhày, acid plantenolic, adenin và cholin.

Theo Đông y, mã đề có tính hàn, vị ngọt, không độc, tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, thấm bàng quang thấp khí, thanh phế nhiệt, thanh can phong nhiệt, làm long đàm.

Toàn cây hoặc hạt mã đề dùng chữa phù thũng, bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu, sỏi thận, ho lâu ngày, viêm phế quản, đau mắt đỏ, kiết lỵ, tiêu chảy, cao huyết áp, phụ nữ đẻ khó. Ngày dùng 8-16g, dạng thuốc sắc uống hoặc nấu cao để uống; đắp cao chữa bỏng, mụn nhọt. Lá tươi rửa thật sạch với nước muối loãng, giã nát đắp mụn nhọt giúp mụn nhọt chóng vỡ và mau lành. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Lưu ý, những người bị tình trạng thận dương hư yếu, đi tiểu quá nhiều, tiểu đêm nhiều lần, hoặc dương khí bị hạ giáng, tinh khí không vững thì không nên dùng mã đề.

 

Một vài bài thuốc có dùng mã đề

- Chữa phù thũng và nhiệt tả: Hạt mã đề, hạt ý dĩ, mỗi thứ khoảng 300-500g, trộn đều, sao chín, tán thành bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần khoảng 10-12g, trước bữa ăn.

- Người cao tuổi đi tiểu ra máu do nhiệt: Hạt mã đề 30-50g, nấu với 600ml nước, sắc còn 300ml, bỏ bã lấy nước. Dùng nước này nấu với 100g hạt kê thành cháo kê. Ăn vào lúc đói bụng.

- Người cao tuổi bí tiểu: Toàn cây mã đề tước bỏ rễ, rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước khoảng 1 chén. Hòa với 1 ít mật ong, uống vào là đi tiểu thông ngay (Nam dược thần hiệu).

- Chữa đi tiểu ra máu: Mã đề tươi 100g, cỏ mực (cỏ nhọ nồi) tươi 100g. Hai thứ rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt (khoảng 1 chén), uống vào lúc đói bụng.

Theo sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, hạt mã đề có vị ngọt, tính hàn, tác dụng lợi tiểu tiện, ngừng tiêu chảy, thông tiêu gắt, trừ tê thấp, ích tinh khí, giúp dễ sinh đẻ. Khi dùng thì bỏ màng ngoài, dùng lửa nhỏ sao đến khi hạt phồng lên, chuyển màu đen nâu là được. Dùng trong các trường hợp tiểu vàng đỏ, tiểu buốt, tiểu ra máu khi bị viêm nhiễm đường tiết niệu và sỏi tiết niệu.

 

3. Trạch tả

Cây trạch tả còn gọi là mã đề nước, tên khoa học Alisma plantago - aquatica L., thuộc họ Trạch tả - Alistaceae.

Cây thảo, cao 40-50cm, có thân rễ hình cầu hay hình con quay, màu trắng. Lá dai, phiến lá hình trái xoan – mũi mác, giống lá mã đề, cuống lá dài bằng phiến, có bẹ to mọc ốp vào nhau thành hình hoa thị. Cụm hoa chùy to, cao 30-120 cm, lưỡng tính, có 3 lá đài màu lục, 3 cánh hoa trắng hoặc hơi hồng, nhị 6, lá noãn 20-30 đính theo một vòng. Quả bế dẹp. Mùa hoa quả tháng 10-11.

Trạch tả mọc hoang ở những nơi ẩm ướt (đầm ao, ruộng…) và cũng được trồng để lấy thân rễ làm thuốc. Người ta thu hái thân rễ vào mua thu, rửa sạch, cạo hết rễ nhỏ, phơi hoặc sấy khô, bảo quản nơi khô ráo để dùng. Khi dùng, có thể sao vàng hoặc tẩm rượu hay tẩm muối, sao vàng.

Trạch tả mọc hoang ở những nơi ẩm ướt.

Trạch tả mọc hoang ở những nơi ẩm ướt. Ảnh: vnthihuu.

Vị thuốc trạch tả  có tác dụng thông tiểu rất mạnh nên được đặt tên với ý nghĩa "tát cạn nước trong đầm". Phân tích trong thân rễ trạch tả có chứa: tinh dầu có asiol A, B, C và epiasiol A, chất nhựa, protid và tinh bột 23%.

Theo Đông y, trạch tả có vị mặn, ngọt, tính hàn, tác dụng lợi thủy trừ thấp, tả hỏa chỉ lỵ, tiêu khát, tiêu bĩ mãn. Ngoài ra còn có tác dụng kích thích, nhuận trường, lợi sữa, long đàm, chống nôn.

Thường dùng chữa một số bệnh đường tiết niệu như: tiểu tiện không thông, bí tiểu, tiểu dắt, tiểu buốt, tiểu ra máu, thủy thũng, viêm thận, bụng đầy trướng. Ngoài ra còn dùng chữa tiểu chảy, kiết lỵ, viêm gan vàng da, mắt đỏ, bạch đới, di tinh… làm thuốc lợi sữa cho phụ nữ sau khi sinh, chữa chứng hoa mắt chóng mặt (huyễn vựng).

Ngày dùng 8-16g dạng thuốc sắc hoặc tán bột làm viên (dùng với một số dược liệu khác).

Để tả thấp hỏa, người ta sao trạch tả cháy thành than, gọi là trạch tả thán. Lá trạch tả (trạch tả diệp) có tính bình, vị mặn, không độc. Thường được dùng chữa bệnh ngoài da (phong độc), giúp lợi sữa, giúp dễ sinh nở. Hạt trạch tả cũng có tác dụng lợi tiểu như hạt mã đề (xa tiền tử). Tuy nhiên cần lưu ý không uống nhiều trạch tả quá, có thể gây ra chứng đau mắt, do lợi thủy thái quả có thể sinh hỏa thịnh.

 

Một số bài thuốc có dùng trạch tả

- Chữa thủy thũng: Trạch tả (sao vàng), bạch truật (sao vàng), hai thứ lượng bằng nhau 50-80g, tán nhỏ. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8-12g. Dùng nước sắc phục linh để uống kèm, uống trước bữa ăn.

Hoặc dùng bài "Phục linh trạch tả thang"

Trạch tả 6g, phục linh 6g, bạch truật 4g, cam thảo 2g, quế chi 2g. Nấu với 600ml nước, sắc còn 200ml, chia 2-3 lần uống trước bữa ăn.

- Trường hợp thuỷ thũng có kèm đi tiểu đục, dùng bài thuốc sau:

Trạch tả 12g, ý dĩ (sao) 12g, tỳ giải 10g. Sắc uống như trên hoặc tán bột để uống trong ngày.

- Trạch tả là vị thuốc có một vai trò quan trọng trong bài thuốc "Lục vị địa hoàng hoàn". Ngoài tác dụng thanh tả thận hỏa, trạch tả còn giúp làm bớt sự nê trệ của vị thuốc thục địa (Quân). Bài thuốc Lục vị địa hoàng hoàn gồm có:

Thục địa 20-32g, sơn thù 10-16g, trạch tả 8-12g, hoài sơn 10-16g, phục linh 8-16g, đơn bì 8-12g. Nấu với 750ml nước sắc còn 300ml, chia 2-3 lần uống vào lúc đói bụng. Có thể tán bột, luyện với mật ong để làm hoàn. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 12-16g.

Đây là bài thuốc chủ yếu để tư bổ can thận, dùng trong trường hợp can thận âm hư, viêm thận mãn, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, đái tháo đường, cao huyết áp, mỡ trong máu tăng… do âm hư.

Bài Lục vị thêm hai vị thuốc là nhục quế, phụ tử, gọi là Bát vị hay Thận khí hoàn, có công dụng chữa thận dương hư. Dùng trong các trường hợp bệnh mãn tính như: viêm thận mãn, liệt dương, tiểu đêm, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh… do dương hư.

 

4. Cây dứa dại

Cây dứa dại còn gọi là dứa gai, dứa gỗ, tên khoa học Pandanus odoratissimus L.f (P.tectorius Park, ex Z.), thuộc họ Dứa dại.

Cây nhỏ, phân nhánh ở ngọn, cao 2-4m, với rất nhiều rễ phụ trong không khí thòng xuống đất. Lá ở ngọn các nhánh, hình dải dài 1-2m, trên gân chính và hai bên mép có gai nhọn. Bông mo đực ở ngọn cây, thõng xuống, với những mo màu trắng, rời nhau, hoa rất thơm; bông mo cái đơn độc, gồm rất nhiều lá noãn. Cụm quả tạo thành một khối hình trứng dài 16-22cm, có cuống, màu da cam, gồm những quả hạch có góc, phẳng và thành bướu ở đỉnh, với hạch rất cứng, nhiều cạnh, xẻ thành nhiều ô.

Quả dứa dại có tác dụng trị lỵ, giải nhiệt độc và trị ho.

Quả dứa dại có tác dụng trị lỵ, giải nhiệt độc và trị ho. Ảnh: baokhanhhoa.

Cây mọc hoang trên những bãi ẩm có cát, trong các rú bụi ven biển, dọc các bờ ngòi nước mặn, rừng ngập mặn. Ở Việt Nam, dứa dại còn tìm thấy dọc theo các bờ sông ở khắp các miền đất nước, từ Hòa Bình cho đến Kiên Giang.

Những bộ phận được dùng làm thuốc là rễ, quả, hạt và lá. Rễ thu hái quanh năm, thu hái các rễ chưa bám đất tốt hơn là rễ ở dưới đất, thái mỏng, phơi hoặc sấy khô để dùng dần. Quả thu hái vào mùa đông, thường quả chín rụng trôi theo dòng nước, người ta vớt lên, đem về dùng tươi hay phơi khô đều dùng được.

Theo Đông y, rễ dứa dại có vị ngọt nhạt, tính mát, tác dụng làm ra mồ hôi, giải nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu. Thường dùng trị cảm mạo phát sốt, viêm thận thủy thũng, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm gan, xơ gan cổ trướng. Liều dùng 15-30g dạng thuốc sắc uống. Rễ chìm dùng trị mất ngủ.

Quả dứa dại có tác dụng trị lỵ, giải nhiệt độc và trị ho. Liều dùng 30-100g dạng thuốc sắc. Hạt dùng trị viêm tinh hoàn, trĩ, liều dùng 30-60g dạng thuốc sắc.

Lá dứa dại có vị đắng, cay, thơm, có tính kích thích, diệt khuẩn. Người ta dùng lá trị cảm mạo nhức đầu, thấp khớp, ghẻ lở do nhiệt độ. Liều dùng 20-30g, sắc uống hoặc phối hợp với các vị thuốc khác cùng công dụng.

 

Một số bài thuốc sử dụng dứa dại

- Tiểu tiện khó, tiểu gắt, tiểu ra sỏi: Dùng 6-12g rễ, 15-20g đọt non, 12-20g rễ cây dứa (thơm, khóm). Sắc với 500ml nước còn lại 200ml chia 2 lần uống trong ngày.

Trường hợp có viêm nhiễm tiết niệu, dùng bài thuốc sau: Rễ dứa dại 16g, ý dĩ 16g, trạch tả 12g, kim ngân hoa 16g, cam thảo nam 12g. Sắc với 750ml nước, còn 300ml chia 2 lần uống trước bữa ăn.

- Phù thũng nhiệt tính: Rễ dứa dại 16-20g, đậu đỏ (xích tiểu đậu) 16g, ý dĩ 16g, cam thảo nam 12g, hạt bìm bìm 8g. Sắc với 750ml còn 300ml chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Theo kinh nghiệm dân gian Trung Quốc, người ta dùng rễ dứa dại 40-60g nấu với thịt và cật heo để ăn, trị viêm thận phù thũng.

- Sỏi thận: Hạt dứa dại 10g, hạt chuối hột 10g, kim tiền thảo (đồng tiền lông) 15g, củ cỏ ống 10g. Sắc với 750ml còn 300ml chia 2 lần uống trong ngày.

Người dân đồng bằng sông Cửu Long còn dùng rễ dứa dại chữa tiểu vàng, nóng, gắt trong bài thuốc sau: rễ dứa dại 16g, rau dừa nước (du long thái) 16g, râu bắp 12g, vỏ quýt 6g, mã đề 8g, rau má 8g, cỏ mần chầu 6g, cam thảo nam 6g. Sắc với 750ml còn 300ml chia 2 lần uống trong ngày.

 

5. Trái dứa (thơm, khóm)

Trái dứa là loại trái cây nhiệt đới, chứa nhiều chất bổ dưỡng. Theo Đông y, trái dứa có vị chua ngọt, tính bình, tác dụng giải khát, sinh tân dịch, trợ tiêu hóa, nhuận trường. Thường dùng trong các trường hợp: thiếu máu, thiếu khoáng chất, ăn uống khó tiêu, xơ cứng động mạch, viêm khớp, thống phong, rối loạn tiêu hóa dạ dày - ruột.

Dùng quả thật chín gọt bỏ vỏ, bỏ mắt, để tươi hoặc ép lấy nước uống. Nên ăn với một chút muối ớt để khỏi bị rát lưỡi.

Để chữa sỏi bàng quang nên dùng rễ cây dứa theo cách sau: rễ dứa 30-40g, xắt nhỏ, sắc với 650ml nước còn lại 300ml chia uống 2 lần sau khi ăn.

Người bị sỏi nên tránh hoặc hạn chế các thức ăn có nhiều oxalat như khoai lang, đậu phộng, mướp, tỏi tây, mù tạt, sơri, mận, đỏ, cam, nho…

Các thức uống cần tránh: Nước trà, cacao, rượu bia, súp cà chua…

Điều đáng lưu ý là phải uống nhiều nước để tạo ra nhiều nước tiểu, nhất là trong những ngày nắng nóng hoặc khi phải hoạt động nhiều.


Uống nước lá tre bật ra sỏi thận



Vào năm 1996, quả thận bên phải của vợ tôi có 2 viên sỏi to, về khám ở Bệnh viện đa khoa Bắc Ninh. Siêu âm có kết quả: 1 viên 1,2cm, 1 viên 0,9cm. Theo lời khuyên của bác sĩ thì nên gắp ra, không nên tán vì đã quá to.

Gia đình đã làm thủ tục vào viện để mổ. Khi chờ ở phòng để làm thủ tục có nghe một bà người nhà bệnh nhân hỏi: “Chị vào chữa bệnh gì?”. Vợ tôi trả lời: “Mổ sỏi thận”. Bà ấy nói rất tự tin: “Tưởng bệnh gì chứ sỏi thận thì uống nước lá tre cũng ra làm gì phải mổ”. Vì đã quyết định rồi, hơn nữa còn bán tin bán nghi nên chúng tôi không thay đổi ý định. Khi mổ, bác sĩ đã lấy ra 2 viên sỏi nhẵn màu nâu, tôi có mang về nhà lưu lại. Hai năm sau vợ tôi lại thấy đau, đi siêu âm lại có viên sỏi tái phát. Đúng như lời bác sĩ dặn khi về phải uống thuốc chống tái phát. Lúc này mới hồi tưởng câu nói của bà già nọ. Thế là tôi bắt đầu lấy lá tre vào các buổi sáng, đun bằng siêu nhôm cho vợ tôi uống hằng ngày. Quá trình uống thì thấy dễ chịu. Đúng một tháng 16 ngày, một cơn đau dữ dội, hội chứng nôn. Theo chẩn đoán của trạm xá xã thì đây là sự vận động của viên sỏi. Trạm xá cho uống thuốc giãn đường tiết niệu. Đến đêm, vợ tôi đi tiểu thì viên sỏi rơi xuống chậu gây ra tiếng kêu. Viên sỏi bằng hạt ngô to tôi còn giữ lại. Từ đây vợ tôi không hề bị tái phát kể cả không uống nước lá tre nữa. Đúng như lời bà cụ nọ: “Uống nước lá tre ra sỏi thận”. Các bạn ai đó thử nghiệm xem.

Chữa sỏi thận, sỏi mật bằng thảo dược

 

Chỉ uống thuốc nước chế từ thảo dược, không ít người bị sỏi thận, sỏi mật sau một thời gian dùng thuốc, sỏi đã tự bào mòn. Bác sỹ, đại tá Đỗ Đoàn Sinh - nguyên là trưởng khoa ngoại Bệnh viện 198 (Bộ Công an) là người đang giữ bài thuốc đặc biệt này.

Tìm đến số nhà 106, nằm trên con đường mà người dân quanh vùng quen gọi là “Đường Ướp Lạnh” (thuộc Tổ 14, thị trấn Cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội), chúng tôi gặp bác sỹ Đỗ Đoàn Sinh, nay là ông lão râu tóc bạc trắng, đeo cặp kính trắng, với dáng vẻ nhân từ, phúc hậu. Bác sỹ Đoàn Sinh sinh năm 1935, nguyên là trưởng khoa ngoại Bệnh viện 198 (Bộ Công an). Tuổi cao, nhưng ông vẫn làm việc cần mẫn, với kinh nghiệm hàng chục năm trong nghề, nay về hưu hàng ngày ông chế thuốc từ thảo dược. Bác sỹ cho biết, chữa sỏi mật, sỏi thận bằng thảo dược là bài thuốc bí truyền mà từ đời ông nội của ông đã truyền lại cho người bác ruột (là thầy thuốc đông y Đỗ Đoàn Thiệp). Ngay từ hồi còn trẻ, ông đã được người bác ruột truyền lại bài thuốc này.

Với bài thuốc gia truyền này, người bị sỏi thận uống thuốc vào sỏi sẽ tự bào mòn, bài tiết theo đường nước tiểu. Người bị sỏi mật, uống thuốc sỏi tự bào mòn, sau đó xuống ruột, bài tiết theo đường tiêu hóa. Với người bị giun chui ống mật, uống thuốc vào sau đó giun quay trở về đường tiêu hóa. Người mắc bệnh hen phế quản uống thuốc cho đến hết hen. Bài thuốc gia truyền này chữa được ở mức độ người bị sỏi thận, sỏi mật viên nhỏ từ trên mười đến mười hai milimet trở xuống.

Theo bác sỹ Đoàn Sinh, từ ngày theo nghề y ông đã ấp ủ trong lòng một ngày nào đó sẽ dùng đến bài thuốc do cha ông truyền lại để cứu giúp người bệnh. Ngay từ năm 1980, đang là một bác sỹ Tây y nhưng ông đã cho một số bệnh nhân sỏi thận, sỏi mật dùng đến bài thuốc này. Hồi ấy, ông tham gia nhiều ca mổ cho những bệnh nhân mắc sỏi mật, sỏi thận thường thấy sau một thời gian mổ, lại tái phát. Có những bệnh nhân mổ đi mổ lại mấy lần. Ông liền cho một số bệnh nhân dùng bài thuốc của gia đình mình. Đó được coi như một giai đoạn thử nghiệm. Ông rất mừng khi biết được chính xác thuốc có hiệu quả cao. Từ đó những bệnh nhân có sỏi ở mức độ còn nhỏ ông đã chữa cho họ bằng bài thuốc này, mà không cần phải mổ.

Phương pháp chữa bệnh của ông là người bệnh đưa các kết quả xét nghiệm ở các bệnh viện đến, căn cứ vào đó để khuyên họ nên mổ, hay uống thuốc để tiêu tán sỏi. Nhiều người bệnh nghe danh ông tìm đến chữa, ông giới thiệu đến các bệnh viện làm siêu âm, xét nghiệm X-quang, sau đó mới trở lại để ông chẩn đoán xem bài thuốc của mình có thể tiêu tán sỏi hay không mới nhận lời chữa. Từng là bác sỹ chuyên khoa phẫu thuật tiêu hóa, khi nhìn vào phim X-quang nếu thấy bệnh nhân nào sỏi tán được ông khuyên uống thuốc, sỏi quá to ông khuyên đi mổ.

Thuốc chữa sỏi mật, sỏi thận của bác sỹ Đoàn Sinh thuộc dạng thuốc nước, có màu nâu sẫm, trông gần giống như mật gấu. Mỗi ngày người bệnh chỉ cần uống hai mililit, bằng cách dùng xilanh hút từ lọ thuốc ra chén để uống đúng liều lượng. Một ca mổ sỏi thận, hay sỏi mật có khi tốn kém tới chục triệu bạc, chưa kể gây đau đớn cho bệnh nhân. Vậy nhưng, có bệnh nhân hợp thuốc chỉ cần uống một lọ thuốc của bác sỹ Đoàn Sinh, đã không còn thấy sỏi. Theo ông, thời gian chữa theo bài thuốc gia truyền của ông là không định được, do tính chất sỏi mỗi người một khác.

Năm bài thuốc đơn giản, rẻ tiền chữa bệnh sỏi thận và mật

 

Năm nay tôi 77 tuổi, bị bệnh sỏi thận tái phát đi, tái phát lại phải chạy chữa tốn kém. Thật may, ông anh cho một quyển sách chữa bệnh bằng cây nhà lá vườn.

Tác giả là một cha cố ở Mỹ viết về quả đu đủ chữa được 8 bệnh, trong đó quả đu đủ xanh làm tan sỏi thận, sỏi mật. Tôi thực hiện ngay ăn 7 quả đu đủ trong 7 ngày, đi siêu âm sỏi đã tan hết. Từ đó tôi phổ biến cho 7 người ăn đu đủ xanh thì 6 người khỏi. Bài thuốc đơn giản mà hiệu quả nên tôi viết bài báo "Đu đủ xanh có thể làm tan sỏi thận, sỏi mật" cho Báo Người cao tuổi (đăng ở Đặc san tháng 4-2010). Ban đầu tôi viết chưa tỉ mỉ, chi tiết nên độc giả khắp cả nước gọi điện thoại về hỏi thêm, nhất là sau số báo tháng 6-2010 ra thì hằng ngày có tới hơn chục cuộc điện thoại hỏi về cách ăn đu đủ chữa sỏi thận. Tôi đã hướng dẫn chi tiết cách sử dụng cho rất nhiều người. Qua 6 tháng, tôi tiếp nhận gần 500 cuộc điện thoại, gọi về nhờ hướng dẫn ăn đu đủ chữa sỏi thận.

Đến tháng 5 - 2011, hồi âm đã có trên 80 người cho biết đã khỏi bệnh. Điển hình là ông Nguyễn Ngọc Hoàng Anh, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (ĐT: 0978.502.069) sỏi 0,8 mm tiêu tan. Theo thống kê của ông Nguyễn Hữu Chung, Hội Người cao tuổi xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (ĐT: 0976.166.970) có ông Lê Công Hội, 65 tuổi sỏi 0,70 mm-0,8 mm ăn đu đủ tiêu tan sỏi và bà con trong xóm làm theo đã có 6 người khỏi là các ông, bà: Trần Thị Xướng, Trần Thị Nhận, Đỗ Bá Ngoan, Nguyễn Viết Vui, Lý Văn Tiến, Nguyễn Kim Chinh. Ngay ở làng tôi, thôn Hội Động, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân cũng 6 người khỏi là ông Minh, ông Sáu, ông Huyến, ông Thau, bà Phương, anh Thiết. Ông Nguyễn Văn Xướng, đường Quy Lưu, phường Minh Khai, TP Phủ Lý bị sỏi mật, vợ là bà Nguyễn Thị Thịnh bị sỏi thận 3 viên to. Hai ông bà thực hiện ăn đu đủ xanh đều khỏi bệnh. ông Nguyễn Văn Đấu người cùng làng tôi là cán bộ về hưu ở số nhà 12 tổ 17 - phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên bị sỏi thận chạy chữa nhiều tiền mà không khỏi. Ông chỉ ăn 7 quả đu đủ là khỏi. Ông nói: "Người nghèo được bài thuốc này là thần tiên". Còn nhiều người nữa không kể hết được. Cũng có một số người ăn đu đủ xanh không khỏi bệnh là do ăn chưa đúng cách, chưa đủ liều hoặc do cơ địa không phù hợp, còn loại sỏi san hô không tiêu tan được.

Nay tôi hướng dẫn thêm bài chữa bằng đu đủ và sưu tầm thêm 4 bài nữa chữa sỏi thận để bạn đọc tham khảo, nếu áp dụng mà không khỏi, không phù hợp thì chữa sang bài kia. Nếu hợp, may mắn là khỏi, không tốn tiền, không phải mổ.

Bài 1: Dùng quả đu đủ xanh

Chọn quả đu đủ độ 400 - 600 gam không già, không non, loại quả bánh tẻ, vỏ còn xanh, còn nhiều nhựa trắng, tác dụng chính là nhựa (quả già ít nhựa, non ăn thì đắng, quả bé không đủ sức bào mòn sỏi). Khi ngắt quả rửa sạch cắt đầu, cắt đuôi moi hết hột bỏ đi, cho thêm ít muối vào quả đu đủ cho vừa ăn để nguyên cả vỏ xanh và nhựa đặt vào cái nồi con, hay cặp lồng, đổ nước đun cách thủy độ 30 phút quả chín, ăn mỗi ngày một quả. Sau bữa ăn an toàn dạ dày. Tùy theo sỏi to nhỏ mà dùng, sỏi dưới 10 mm thì ăn 7 quả, nếu trên 10 mm phải ăn nhiều hơn, ăn liên tục, không kiêng kị gì, người khó ăn có thể chấm đường cho dễ.

Bài 2: Dầu ô liu và quả chanh

Tỉ lệ một thìa dầu ô liu một quả chanh vừa phải, căn cứ vào lượng sỏi to nhỏ mà dùng như sau:

Sỏi trung bình trên dưới 10 mm ngày 6-7 quả chanh vắt lấy nước hòa với 6 đến 7 thìa dầu ô liu, quấy đều, đổ thêm 3 - 4 bát nước lã đun sôi để nguội hòa đều rồi uống. Uống sau 3 - 4 giờ đi tiểu liên tục hứng vào bô để lắng, xem dưới đáy bô có cặn trắng là tốt. Sỏi nhỏ có thể làm một lần, nếu sỏi to có thể làm 2 đến 3 ngày.

Bài 3: Rau om nước dừa

Rau om ở miền Nam thường dùng nấu canh chua (ở miền Bắc gọi là rau ngổ) thường mọc ở các bờ ao, các mương máng. Có loại trắng thường làm rau thơm ăn với thịt chó. Loại đỏ dùng cũng được. Lấy độ 1 kg đem giã nát vắt lấy nước cốt hòa với nước dừa uống ngày 2 - 3 lần nếu là khô dùng 5 - 6 lạng sắc uống ngày 2 -3 lần. Thời gian dùng 5 - 7 ngày tùy lượng sỏi. Đây là bài thuốc của Hòa Thượng Thích Giác Nhiên.

Bài 4: Hoa cây đu đủ đực

Hoa cây đu đủ đực ngắt xuống giã nát, hòa với nước lã đun sôi để nguội trộn đều vắt lấy nước uống ngày ba lần. Tùy loại sỏi, hợp là tiêu tan (bài của Hòa Thượng Thích Giác Nhiên).

Bài 5: Mề gà, mật vịt

Gà vịt thường ăn lẫn đá, sỏi, cua ốc, chất rắn nhiều can-xi thế mà vẫn tiêu tan được nhờ nó có chất gì đó. Cách làm, bóc màng trong mề của con gà, con vịt đem phơi khô, tán nhỏ. Còn mật vịt lấy về ngâm rượu sau 15 ngày là dùng được. Mỗi ngày dùng ít bột của màng gà, vịt đã tán nhỏ với 2 mật con vịt ăn liên tục từ l0 -15 ngày. Nếu tìm được rễ cây cỏ xước, rễ cây xấu hổ, rễ cây dứa dại, rễ cây đỗ ván đem băm phơi khô, sắc uống thì càng tốt, chóng khỏi hơn (bài này trên ti-vi đã phổ biến)

Lương y Lương Phúc Huyên

(Xóm 7, Hội Động, xã Đức Lý,

huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

ĐT: 0351.6298.295)

Đông Y chữa sỏi thận

 

Là một trong 5 bệnh Lâm của Đông y. Đặc điểm của bệnh là sự kết hợp những cục sạn (to nhỏ tùy trường hợp) trong Thận và đường tiểu, tạo nên sự ngăn trở trong việc bài tiết. Bệnh thường gặp ở phái nam nhiều hơn ở nữ.

 

Kim tiền thảo trị sỏi thận










Nguyên nhân

+ Do Tiểu quá ít: tạo nên sự đậm đặc của các chất tan trong nước tiểu, đến một độc đặc nào đó, các chất hòa tan trong nước tiểu sẽ đặc lại. Bình thường hàng ngày, mỗi người tiểu 1-2 lít nếu lượng nước tiểu vì một lý do nào đó không được bài tiết ra, những cạên bã lẫn trong nước tiểu sẽ dần dần đọng lại tạo thành sạn, sỏi. Có thể hiểu như sau, một ly nước quấy với đường, các tinh thể đường lẫn tan vào trong nước nhưng để một thời gian, nước bốc hơi còn chừng nửa ly thì đường sẽ kết tinh lại, động ở đáy ly. Vì vậy, những người ít đi tiểu dễ bị kết sạn.

+ Sự kết hợp của vi trùng khi chết bị đào thải qua đường tiểu hoặc của các chất cặn bã trong nước tiểu… tạo nên một khối cứng để cho các chất kết tinh lại tạo thành cục sạn. Trong công việc nuôi ngọc trai, người nuôi thường bỏ một hạt cát vào trong thân con trai, con Trai nhả chất ngọc bao bọc quanh hạt cát để làm cho hạt cát này thành vô hại đối với nó. Trong chứng sạn thận hoặc sạn đường tiểu cũng vậy, các xác vi trùng hoặc các tạp chất lãnh nhiệm vụ như hạt cát trong cơ thể con trai để tạo nên khối kết tinh trong đường tiểu thành cục sạn.

 

Chẩn Đoán.

Để xác định được bệnh một cách chắc chắn, khi tiểu đục, đau… nên:

. Xét nghiệm nước tiểu: để tìm các chất có thể kết tinh trong nước tiểu (có thể là oxalat de calcium, Phosphate, Ureate và Cystine…

 Chụp hình hoặc siêu âm để biết vị trí và kích thước của viên sỏi ở Thận, ở bàng quang hoặc ở ống tiểu… giúp dễ đề ra phương hướng điều trị.

 

Điều Trị

Khi điều trị, cần chú ý hai điểm sau:

+ Kích thước viên sỏi cỡ nào? Vì nếu sạn nhỏ dưới 10mm còn có thể uống thuốc cho tống ra còn nếu sạn quá lớn, phải phối hợp giải phẫu để lấy sỏi ra.

+ Cấu tạo của viên sỏi đó thuộc loại nào? Để có hướng điều trị cho phù hợp.

. Sỏi là chất Oxalate (thường gặp nhất là Oxalate calcium)

kiêng các chất có acide oxalique như Rau muống, Cacao, những chất có nhiều chất caclcium như sữa, trứng, tôm cua, sò, ốc, hến… Nên ăn ít cơm và bánh mì.

. Sỏi thuộc loại Phosphate

Ăn uống cần ăn nhiều thịt, mỡ, bánh mì. Kiêng các loại rau sống hoặc luộc chín. Nên uống nước chanh hoặc nước cam.

. Sỏi là chất Ureate

kiêng Chocolate, cà phê, nấm rơm, rượu, bia, tôm, cua.

. Sỏi là chất Cystine: Kiêng các loại rau sống và chín, ăn ít trái cây. Kiêng sữa, cà phê, chocolate…

 

Một số bài thuốc kinh nghiệm

+ Giáng Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Cam thảo tiêu 3g, Đông quỳ tử 10g, Giáng hương 3g

Hải kim sa 10g, Hoạt thạch 10g, Kê nội kim 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngư não thạch 10g, Thạch vi 10g, Xuyên ngưu đằng 10g. Sắc uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp. Trị hạ tiêu có thấp nhiệt, sỏi đường tiết niệu.

- TK: Dùng bài Giáng Thạch Thang trị mấy chục bệnh nhân bị sỏi đường tiết niệu đều đạt kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Tang Căn Tam Kim Nhị Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Hải kim sa 30g, Hoạt thạch 30g, Kê nội kim (rang với cát) 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngưu đằng 10g, Tang thụ căn 30g, Thạch vi 16g, Tỳ giải 10g, Vương bất lưu hành 10g. Sắc uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, chỉ thống. Trị thận hư, thấp nhiệt uẩn kết, sỏi đường tiểu.

- TK: Mấy năm nay trị sỏi tiết niệu theo phương pháp kết hợp Đông Tây y, tức là Tây y chẩn đoán rõ ràng chính xác (bao gồm kích thước, hình dáng, số lượng hạt sỏi, chức năng của thận tốt hoặc xấu, có bị nhiễm khuẩn không?…), rồi cho dùng bài thuốc thải sỏi thích hợp để thải sỏi ra 1 cách kết quả, giải trừ đau đớn cho bệnh nhân. Qua những tư liệu tích lũy được, việc thải sỏi quyết định dựa vào vị trí, kích thước và độ nhẵn của viên sỏi. Nếu các điều kiện trên thuận lợi, dùng bài thuốc này làm chính, có gia giảm thêm thì hiệu quả thu được khá tốt. Nói chung, sau khi uống thuốc, viên sỏi đều được thải ra ngoài (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Tạc Thạch Hoàn (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Cam thảo (sao) 6g, Địa long 10g, Đông quỳ tử 16g, Hải kim sa 10g, Hoạt thạch 10g, Hổ phách 2g, Kê nội kim 10g, Mang tiêu 6g, Mộc tặc 10g, Phục linh 10g, Trầm hương 2g, Trạch tả 10g, Xa tiền tử 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Xuyên uất kim 10g. Trừ Mang tiêu, Hoạt thạch và Hổ phách, các vị kia đem sao khô nhỏ lửa rồi tán với Hổ phách, rây bột mịn, hòa Mang tiêu vào nước và rượu, làm hoàn, to bằng hạt đậu xanh, dùng Hoạt thạch bọc ngoài làm áo. Phơi trong râm cho khô, cất để dùng dần.

Mỗi lần uống 10-16g, ngày 2 lần, với nước ấm, trước bữa ăn 1 giờ.

- TD: Thanh nhiệt, lợi niệu, thông lâm. Trị thấp nhiệt uẩn kết ở hạ tiêu, sỏi ở đường tiểu.

- GT: Mộc tặc, Đông quỳ tử, Xa tiền tử, Hoạt thạch, Cam thảo, Hải kim sa để thanh nhiệt, lợi niệu, thông lâm; Địa long cũng có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu; Ngư tất trị ngũ lâm, tiểu ra máu, dương vật đau, dẫn thuốc xuống; Trầm hương giáng khí, nạp thận, tráng nguyên dương, trị khí lâm; Hổ phách thông lâm, hóa ứ, trị tiểu ra máu; Mang tiêu hóa thạch, thông lâm. Các vị kể trên đều là những vị lợi tiểu, thông lâm, thanh nhiệt, vì vậy, bài này dùng trị sỏi ở niệu quản đạt kết quả lý tưởng (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Thông Phao Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bại tương thảo 16g, Biển súc 6g, Cát cánh 4g, Cù mạch 6g, Lậu lô 10g, Mông hoa 16g, Thanh bì 10g, Trạch tả 10g, Vương bất lưu hành 15g. Sắc uống.

- TD: Hành ứ, thông lâm. Trị thấp nhiệt ở bàng quang, ứ trệ ở hạ tiêu, sỏi đường tiểu.

- TK: Đã dùng bài thuốc này trị cho 7 ca sỏi đường tiểu đều thu dược kết quả tốt. Lại dùng trị 1 trường hợp thận đa nang tiểu ra máu cũng thu được kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Tam Kim Hồ Đào Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Kim tiền thảo 30-60g, Kê nội kim (nướng, tán bột, chia làm hai lần uống với nước thuốc) 6g, Xa tiền thảo, Hoạt thạch đều 12g, Sinh địa 15g, Thiên môn 9g, Ngưu tất 9g, Mộc thông 4,5g, Cam thảo (sống) 4,5g, Nhân hồ đào 4 hột (chia làm 2 lần nuốt). Sắc với 600ml nước nhỏ lửa trong 30 phút còn 400ml. Rót ra, lại cho thêm 500ml nước, sắc lần thứ hai như trên, còn 300ml. Đổ chung hai nước, sắc, chia làm hai lần uống.

+ Trân Kim Thang Gia Giảm (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Hải kim sa16g, Kê nội kim 12g, Lộ lô thông 16g, Mạch môn 10g, Phù thạch 16g, Tiểu hồi 10g, Trạch tả 12g, Trân châu 60g, Ty qua lạc 12g, Vương bất lưu hành 12g. Sắc uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, bài thạch. Trị thấp nhiệt hạ chú, uất kết lâu ngày làm cho tạp chất của nước tiểu đọng lại thành sỏi, đường tiểu có sỏi.

- TK: Qua thực tiễn lâm sàng cho thấy dùng bài Trân Kim Thang Gia Giảm trị bệnh kết sỏi ở các vị trí của hệ tiết niệu đều thu được kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Trục Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bạch thược 10g, Cam thảo (nhỏ) 4,8g, Hải kim sa đằng 18g, Hổ phách mạt 4g, Kê nội kim 6g, Kim tiền thảo 30g, Mộc hương 4,8g, Sinh địa 12g. Mộc hương cho vào sau, Hổ phách mạt để ngoài uống với nước thuốc sắc. Ngày một thang, chia hai lần uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, trục thạch. Trị thấp nhiệt uất kết, sỏi đường tiểu.

- GT: Kim tiền thảo thanh nhiệt, lợi thấp, trục thạch, làm quân; Hải kim sa đằng lợi thủy, thông lâm; Kê nội kim tiêu sỏi làm thần; Hổ phách khử ứ, thông lộ, chỉ thống; Mộc hương hành khí, giải uất, chỉ thống; Sinh địa, Bạch thược lợi thủy mà không gây tổn thương, làm tá; Cam thảo điều hòa các vị thuốc, làm sứ (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Niệu Lộ Bài Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Biển súc 24g, Chi tử 20g, Chỉ xác 10g, Chích thảo 10g, Cù mạch 15g, Đại hoàng 12g, Hoạt thạch 15g, Kim tiền thảo 30g, Mộc thông 10g, Ngưu tất 15g, Thạch vi 30g, Xa tiền tử 24g. Sắc uống.

- TD: Tiêu sỏi, thông lâm, hành khí, hóa ứ, thanh lợi thấp nhiệt. Trị thấp nhiệt hạ chú, sỏi ở đường tiểu.

- GC: Cần nắm vững bài thuốc này thích hợp với các chứng sau:

+ Sỏi có đường kính ngang nhỏ hơn 1cm, đường kính dài nhỏ hơn 2cm.

+ Hệ tiết niệu không có dị dạng về giải phẫu và những biến đổi bệnh lý.

+ Chức năng thận bên bệnh còn tốt.

+ Niệu Lộ Kết Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bạch vân linh 10g, Hải kim sa 15g, Hoạt thạch 12g, Hổ phách 3g, Kim tiền thảo 15g, Mộc thông 6g, Thạch bì 10g, Trần bì 10g, Xa tiền tử 10g, Sắc uống.

- TD: Lợi thấp, hóa ứ, trị sỏi ở bàng quang.

+ Nội Kim Hồ Đào Cao (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Hồ đào nhân (chưng) 500g, Kê nội kim 150g, Mật ong 500g. Kê nội kim, nướng, tán thành bột. Hồ đào đập nhỏ. Trộn chung với Mật ong thành dạng cao. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10ml.

- TD: Tư thận, thanh nhiệt, thấm thấp, thống tán, hóa kết. Trị chứng sỏi ở đường tiểu.

+ Thược Dược Cam Thảo Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Bạch thược, Trân châu mẫu 30g, Cam thảo, Đàn hương, Nga truật, Nguyên hồ, Hồi hương đều 10g, Điều sâm, Mạch môn, Bạch vân linh đều 12g. Sắc uống.

TD: Hoãn cấp, chỉ thống. Trị thận hư, lưng đau, khí âm đều suy, khí nghịch, sỏi niệu quản.

+ Phụ Kim Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Kim tiền thảo 30g, Phụ tử 12g, Thục địa 20g, Trạch tả 10g, Sắc uống.

- TD: Ôn thận, hành thủy. Trị thận khí hư tổn, sỏi đường tiểu.

Kinh Nghiệm Điều Trị Sỏi Thận Của Nhật Bản

+ Đại Kiến Trung Thang: thích hợp với sỏi điển hình.

+ Thược Dược Cam Thảo Thang:hợp với những bệnh nhân nặng có cơn đau sỏi thận, sỏi bàng quang.

+ Đại Hoàng Phụ Tử Thang: có tác dụng đối với sỏi bị ứ đọng. Tính chất hàn nhiệt của các vị thuốc giúp cho dễ tan sỏi.

Điều Dưỡng

+ Nên uống nhiều nước để tránh cặn sỏi động lại.

+ Khi muốn tiểu, không nên nín lại lâu ngày sẽ kết thành sỏi.

+ Theo ‘British Medical Journal’: các nhà nghiên cứu viện đại học California nhận thấy ở 110 người bệnh bị sỏi thận: 93 người bệnh luôn ngủ nghiêng về một bên, trong số đó có 76% có sỏi ở phía bên đó. Vì thế, khi ngủ, nên trở mình cả hai bên hoặc nằm ngửa để tránh sỏi thận (Courrier International số 554, 20.6.2001).

Bài thuốc chữa sỏi thận từ lá cây thiên nhiên

Bài 1: Lá ngò gai, lấy chừng 01 nắm, đem hơ lửa cho héo, bỏ vô siêu, đổ 03 chén nước, sắc còn lại 8 phân, ngày uống 3 lần: sáng, tối và đi ngủ, trước bữa ăn. Uống như vậy liên tục, nam uống 7 ngày, nữ uống 9 ngày, thì tiểu ra hết sạn trong bọng đái, nếu còn nhỏ thì sẽ tiêu mất. Bài thuốc này rất hiệu quả, đã có nhiều người dùng và đều cho kết quả tốt.

Bài 2: Trái
chuối hột giú chín, đãi ra lấy hột, chừng 1 chén, đem phơi khô, rang cho cháy, tán thành bột, đi đâu đem theo, uống mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê, uống từ 10 ngày đến 20 ngày sẽ tiêu ra hết.

Bài 3: Lá thúi địch, loại lá xanh giống như lá sâm, hái 01 nắm lớn, rửa sạch, đâm vắt nước uống sống mỗi ngày 2 lần, liên tục 10 ngày đến 20 ngày trở đi sẽ hết.

Bài 4:
bông bụp lồng đèn theo hàng rào, hái 01 nắm, đâm, để chút muối, chế thêm nước lạnh, vắt cho sệt sệt, ngày uống 2 lần, uống trong 15 ngày sẽ tiêu ra hết.

Bài 5: Lá trầu bà loại lá lớn, hái chừng 5-10 lá, bỏ vô nồi sắc 3 chén còn 1 chén, uống chừng 10 ngày, sẽ tiêu ra hết. Còn xác thì nấu thế
nước trà uống thường xuyên cho nó tiêu, không tái phát.

Bài 6: Trái khóm, khoét lỗ, nhét phèn chua vô ruột, nướng chín, vắt nước uống ngày vài lần sẽ hết. Chỉ uống khoảng 15 phút là hết đau liền.

Bài 7: Đọt tre mỡ, rễ tranh, râu bắp, lấy mỗi thứ 01 nắm, sao khử thổ, sắc 03 chén còn 01 chén, uống trong 3 tuần sẽ hết.

Bài 8: Hột
chuối hột chín, đãi ra, đem rang cho vàng, lấy 01 nắm, sắc 03 chén còn 8 phân, uống sẽ hết

Bài 9: Vỏ sầu riêng, xắc mỏng, phơi khô, sao, cắt lá mã đề, nấu chung, sắc uống chừng 7 lần, tiểu ra hết.

Bài 10: Dây hàn the, cắt đem phơi khô, sao khử thổ, mỗi ngày nấu 01 nồi, nấu cho kẹo lại, uống liên tiếp trong vòng một tháng sẽ tan sạn.

Bài 11: Đọt gòn còn non, mỗi ngày đâm vắt nước, uống 1 tô, uống trong một tháng, tiểu ra sạn từ từ, và sau khi uống, chụp hình lại sẽ thấy kết quả không lường được. Hiệu nghiệm trăm phần trăm.

Bài 12: Cây bông nở ngày (bông tròn màu tím), chặt phơi khô, để dành, mỗi ngày nấu 1 nồi, uống liên tiếp cho đến khi hết sạn, tiểu thông thì thôi.

Bài 13: Trái
chuối hột non (chuối chát), đâm vắt lấy nước chừng 1 ly, để chút muối uống liên tục, sẽ đái ra hết hoặc sạn sẽ tiêu.

Bài 14: Rau om, độ một nắm, đâm nhuyễn, đỗ nước, vắt lấy nước cốt chừng hai phần chén. Chặt ngang rồi khoét lỗ cây chuối hột, đỗ nước cốt rau om vô lỗ cây chuối hột, lấy chén đậy lại 1 đêm. Sáng ra lấy nước để vô chai, ngày uống 03 lần. Nếu đau nặng, chặt uống chừng 5 cây, làm như vậy sẽ kết quả. Bài thuốc này áp dụng để trị sạn thận, đau nhức, tiểu khó khăn.

Bài 15: Đập 02 hột vịt, lấy lòng trắng hòa với chút
rượu trắng, uống chừng vài ba lần sẽ hết, kết quả trăm phần trăm. Bài này áp dụng để điều trị đau nhức 2 bên trái thận, đi đứng khó.

Bài 16: Bột ngọt 01 muỗng cà phê, một chút muối, một chút đường, hòa với nước lạnh, cho uống sẽ hết liền. Áp dụng trong trường hợp đau thận làm ngất xỉu. Lưu ý: chỉ uống một lần thôi

Bài 17: Một trái khóm, nướng cho chín, vắt nước vô 2 tròng đỏ hột gà, quậy cho đều, ăn vài lần sẽ hết. Bài này rất công hiệu trong việc thận nhức, thận đau.

Bài 18:
dâu tằm ăn, hái lá non, giã ra, vắt nước, còn lá già, sao khử thổ, sắc uống sẽ hết. Bài thuốc này dùng trong trường hợp tiểu đêm (độc vị)

Bài 19 -
Thuốc bổ thận: Hột mận phơi khô chừng 01 ký, bỏ vô ngâm với 1 lít rượu trắng độ 7 hôm, uống mỗi lần 1 ly nhỏ trước bữa cơm, uống chừng 10 ngày.

Bài 20 - Thông tiểu, hạ nhiệt: Rễ cây Sâm Đất (cây nổ, có hoa màu tím, có trái chín đen khi thả xuống nước nổ lụp bụp) nấu nước uống với lá sâm dứa thơm như uống nước trà. Dùng thay cho nước lọc càng tốt giúp thanh nhiệt, hạ hỏa, uống lâu ngày da dẻ mịn màng, không có tác dụng trị sạn thận nhưng dùng lâu ngày ngăn nguy cơ sạn thận. Cây này có thể phơi khô để bảo quản sử dụng lâu ngày.

Bài thuốc chữa gan, sỏi thận từ dứa


Không chỉ quả dứa, thân cây dứa cũng chữa được nhiều bệnh.

Nếu muốn nhuận tràng, lấy lá dứa 15-20 g rửa sạch, ép lấy nước uống. Còn để trừ giun sán thì tăng liều gấp đôi. Phụ nữ có thai không được dùng vì có thể bị sẩy thai.

Theo Đông y, quả dứa có tác dụng bổ dưỡng, giải khát, sinh tân dịch, lợi tiểu, giúp tiêu hóa, chống viêm, tẩy độc. Nhiều tác giả cho rằng ăn dứa hằng ngày có thể chống tăng huyết áp và lợi tim mạch chống chứng huyết khối phòng ngừa tai biến. Nước ép dứa chín dùng nhiều lần trong ngày tác dụng nhuận tràng, tiêu ứ trệ.

Các bài thuốc cụ thể khác:

Sỏi thận: Nước ép quả dứa nướng cháy vỏ ngoài trộn với một quả trứng gà, đánh nhuyễn, uống làm một lần (ngày hai lần, liền 3 ngày).

Hoặc: Quả dứa thái miếng, nấu nhừ với 0,5 g phèn chua trong 2-3 giờ, ăn cái, uống nước, dùng 7 ngày.

Đau gan, viêm gan: Vỏ quả dứa 50 g, phối hợp với cây chó đẻ răng cưa 20 g, gan lợn 100 g, thái nhỏ sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày.

Sốt nóng, khát nước: Nõn dứa (đọt non) 20-30 g cắt nhỏ, giã nát, ép lấy nước uống hoặc phơi khô, sắc nước uống.

Những bài thuốc khác chữa sỏi thận

Ngoài ra, còn có các bài thuốc khác để chữa sỏi tiết niệu theo y học cổ truyền. Y học cổ truyền cho rằng, sỏi tiết niệu phần nhiều thuộc chứng thấp nhiệt ở hạ tiêu, làm cho cặn lắng nước tiểu bị đọng lại, nhỏ gọi là “sa lâm”, to gọi là “thạch lâm”. Sỏi tiết niệu có nhiều thể khác nhau với các bài thuốc điều trị tương ứng.

Với thể thấp nhiệt - biểu hiện: tiểu tiện ra máu, kèm theo đau bụng, tiểu tiện nhiều lần, đái buốt, miệng đắng, họng khô, bụng dưới tức trướng, chất lưỡi đỏ. Bài thuốc trị gồm các vị: mộc thông 9g, biển súc 12g, hoàng thạch 15g, sơn chi 12g, kim tiền thảo 30g, kê nội kim 9g, tiên hạc thảo 15g, xa tiền tử 15g, cù mạch 12g, đại hoàng 6g, cam thảo 6g, hải sa kim 15g, hòe hoa 9g.

Với thể can uất khí trệ - biểu hiện: tiểu tiện ra máu, đái buốt, đái rắt, ấn vùng thận đau, ngực sườn đầy trướng..., bài thuốc trị gồm: kim tiền thảo 40g, xa tiền tử 20g, đào nhân 8g, uất kim 8g, ngưu tất 12g, chỉ xác 8g, đại phúc bì 8g, kê nội kim 8g, ý dĩ 8g.

Với thể thận âm suy hư – biểu hiện: tiểu tiện ra máu liên tục, bụng dưới trướng đầy, lưng gối mềm yếu, đầu váng, tai ù, triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, chất lưỡi đỏ, thì bài thuốc gồm: tri mẫu 12g, thục địa 12g, trạch tả 12g, kê nội kim 9g, mộc thông 9g, cam thảo 6g, đương quy 12g, hoàng bá 12g, sơn thù 6g, kim tiền thảo 30g, hải sa kim 15g, xa tiền tử 15g, hoàng kỳ 15g.

Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang, bằng cách: cho 1 lít nước vào thang thuốc, sắc kỹ chắt lấy 300ml nước thuốc, chia uống 3 lần trong ngày, uống liên tục trong 15 ngày.
có chuyên môn để việc dùng thuốc đạt hiệu quả.

Theo lương y Vũ Quốc Trung, sỏi đường niệu là hiện tượng kết sỏi ở đường tiết niệu bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và một số trường hợp có cả sỏi niệu đạo (thường là do sỏi từ bên trên đi xuống). Bệnh hay xảy ra ở người lớn tuổi, ít xảy ra ở trẻ em, bệnh thường có tiền sử lâu dài qua nhiều năm. Có nhiều phương pháp khác nhau để điều trị sỏi niệu, như uống thuốc nội khoa cho tan sỏi; tán sỏi ngoài cơ thể; phẫu thuật để lấy sỏi…

Kim tiền thảo


Theo kinh nghiệm dân gian, nếu sỏi còn nhỏ dưới 10 mm, có thể dùng bài thuốc từ quả dứa và phèn chua để chữa. Phèn chua là một vị thuốc mà đông y gọi là khô phân, minh phân, khi tác dụng với a-xít hữu cơ có trong quả dứa sẽ làm tăng tính a-xít, nhờ vậy có tác dụng làm tan sỏi. Quả dứa có vị chua ngọt, tính bình, có tác dụng giải khát, sinh tân dịch, giúp tiêu hóa. Nước quả dứa nhuận tràng, tiêu tích trệ. Nõn của dứa thanh nhiệt giải độc, dịch ép lá và quả chưa chín có tác dụng nhuận tràng và tẩy. Rễ dứa thì lợi tiểu, chữa sỏi tiết niệu, tiểu tiện không thông.

Để chữa sỏi tiết niệu, bài thuốc từ quả dứa mà người ta hay dùng đó là lấy một quả dứa gọt vỏ, khoét một lỗ rồi cho vào đó một ít phèn chua (khoảng 0,3g) rồi cho nước vào và đậy nắp lại đem nấu đến chín mềm. Sau đó ăn các miếng dứa và uống cả nước. Dùng liên tục trong 7 ngày, nhiều người bệnh dùng cách này cho kết quả tốt.

Trạch tả


Những bài thuốc khác

Ngoài ra, để chữa sỏi niệu, theo lương y Quốc Trung, y học cổ truyền còn có các bài thuốc khác. Y học cổ truyền cho rằng, sỏi tiết niệu phần nhiều thuộc chứng thấp nhiệt ở hạ tiêu, làm cho cặn lắng nước tiểu bị đọng lại, sỏi nhỏ gọi là “sa lâm”, sỏi to gọi là “thạch lâm”. Sỏi niệu có nhiều thể khác nhau, và các bài thuốc điều trị tương ứng với từng thể.

Chẳng hạn, với thể thấp nhiệt, bệnh có những triệu chứng: đi tiểu ra máu, tiểu nhiều lần, tiểu buốt kèm theo đau bụng, miệng đắng, họng khô, bụng dưới tức trướng, thì dùng bài thuốc trị gồm các vị thuốc: kê nội kim, mộc thông, hoa hòe (mỗi vị 9g), biển súc, sơn chi, cù mạch (mỗi vị 12g), hoàng thạch, xa tiền tử, tiên hạc thảo, hải sa kim (mỗi vị 15g), kim tiền thảo 30g, đại hoàng, cam thảo (mỗi vị 6g).

Với thể can uất khí trệ, bệnh thường biểu hiện gồm tiểu ra máu, tiểu gắt và buốt, ấn vào vùng thận thì đau, phần ngực sườn trướng tức, thì dùng bài thuốc gồm các vị: ý dĩ, kê nội kim, uất kim, đào nhân, chỉ xác, đại phúc bì (mỗi vị 8g), kim tiền thảo 40g, xa tiền tử 20g, ngưu tất 12g.

Với thể thận âm suy hư, biểu hiện bệnh gồm thường tiểu tiện ra máu, bụng dưới trướng đầy, lưng gối mềm yếu, đầu choáng, tai ù, ra mồ hôi trộm, lưỡi đỏ, thì sử dụng bài thuốc gồm các vị hoàng bá, đương quy, tri mẫu, thục địa, trạch tả (mỗi vị 12g), kê nội kim, mộc thông (mỗi vị 9g), cam thảo, sơn thù (mỗi vị 6g), kim tiền thảo 30g, hải sa kim, xa tiền tử, hoàng kỳ (mỗi vị 15g).

Cách sắc (nấu) các bài thuốc trên là: cho các vị thuốc vào nồi đất cùng với 3 chén nước, nấu còn lại 1 chén, cho nước thuốc ra, tiếp tục cho 2 chén nước vào nấu còn lại nửa chén. Hòa hai nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày.





Tác dụng chữa bệnh của cây dứa dại
Tác dụng chữa bệnh của quả dứa
Tác dụng chữa bệnh của quả đu đủ xanh
Bệnh sỏi thận khi mang thai
Tìm hiểu về bệnh sỏi thận
Công dụng chữa bệnh của rau ngò ôm
Ăn kiêng cho người bị sỏi thận
Tác dụng chữa bệnh của quả dừa -





(ST)

 



• Hỏi đáp về
Bạn muốn biết thêm về chủ đề xin vui lòng đặt câu hỏi tại đây để được trợ giúp
Gửi
Hỏi đáp của bạn phải gõ bằng tiếng việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nôi dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Hỏi đáp có nội dung xấu sẽ bị xóa.

Bài viết trong chủ đề này


      Không có bài viết nào!

• Các nội dung liên quan:

Top 10 Câu hỏi mới nhất

avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 6 giờ trước
0 Trả lời 2 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 7 giờ trước
0 Trả lời 1 click
avatar
An_nick hỏi về chủ đề này trong Hỏi đáp 20 giờ trước
0 Trả lời 1 click